Xem thêm thông tin của Báo PNVN trên
Phụ nữ Việt Nam
MỚI NHẤT ĐỘC QUYỀN MULTIMEDIA CHUYÊN ĐỀ
06/03/2026 - 06:06 (GMT+7)
Nữ giáo sư với công nghệ mở lối "tái tạo" tài nguyên nước

GS.TS. Trần Thị Việt Nga, Giảng viên cao cấp Khoa Kỹ thuật Môi trường và Viện trưởng Viện Công nghệ cao Việt Nhật (Trường Đại học Xây dựng Hà Nội), đã kiên trì theo đuổi hướng nghiên cứu xử lý nước và nước thải gắn với cách tiếp cận “tái tạo” tài nguyên nước theo định hướng kinh tế tuần hoàn. 

Chị được trao Giải thưởng Kovalevskaia năm 2025 nhờ dấu ấn khoa học nổi bật: Chủ trì 12 đề tài các cấp (đề tài cấp Nhà nước, cấp bộ và tỉnh/thành phố và hợp tác quốc tế), công bố 82 bài báo khoa học (40 bài quốc tế SCIE/SCOPUS) và đồng tác giả 1 bằng sáng chế năm 2025.


Hà Nội những ngày tháng 3 náo nhiệt với dòng người xe tấp nập ngược xuôi không ngừng nghỉ. Bước vào một không gian quán cà phê nhỏ ẩn mình tĩnh lặng ở góc phố, tôi may mắn có cơ hội trò chuyện cùng GS.TS. Trần Thị Việt Nga. Không gian xung quanh dường như lắng đọng lại nhường chỗ cho những dòng ký ức và tâm sự chân thành khi nữ giáo sư bắt đầu chia sẻ về chặng đường gắn bó với sự nghiệp đầy gian nan nhưng vô cùng tự hào.

Tới đây, nữ giáo sư vinh dự trở thành cá nhân được Hội LHPN Việt Nam và Ủy ban Giải thưởng Kovalevskaia trao tặng Giải thưởng Kovalevskaia năm 2025. "Tôi rất vinh dự và tự hào khi được ghi nhận bằng Giải thưởng Kovalevskaia 2025, một giải thưởng tôn vinh thành tích nghiên cứu và trí tuệ khoa học mà nhiều phụ nữ làm khoa học mơ ước. Trong lĩnh vực kỹ thuật cấp thoát nước và kỹ thuật môi trường vốn ít phụ nữ theo đuổi, sự ghi nhận này sẽ tiếp thêm động lực cho bản thân cùng các đồng nghiệp nữ bền bỉ cống hiến", GS.TS. Trần Thị Việt Nga bày tỏ.

Nữ giáo sư với công nghệ mở lối "tái tạo" tài nguyên nước- Ảnh 1.

GS.TS. Trần Thị Việt Nga, Giảng viên cao cấp Khoa Kỹ thuật Môi trường và Viện trưởng Viện Công nghệ cao Việt Nhật (Trường Đại học Xây dựng Hà Nội).

Nữ giáo sư với công nghệ mở lối "tái tạo" tài nguyên nước- Ảnh 2.

Sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống làm khoa học, nữ giáo sư sớm được gieo mầm tình yêu với con đường nghiên cứu. Người thắp lên và nuôi dưỡng ngọn lửa đam mê tri thức ấy chính là bố và anh trai ruột - những người thầy đầu tiên đã khơi dậy cho bà tinh thần ham học hỏi, tìm hiểu thế giới tự nhiên xung quanh. Bởi thế, khoa học đến với bà không như một lựa chọn ngẫu hứng, mà là một định hướng được bồi đắp từ những năm tháng ấu thơ.

Trưởng thành trong giai đoạn đầu những năm 1990, khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, mở cửa và tăng trưởng kinh tế, bà sớm chứng kiến một thực tế song hành: Đời sống cải thiện, nhưng áp lực lên tài nguyên thiên nhiên và môi trường cũng gia tăng. Lựa chọn nghề nghiệp gắn với cấp thoát nước và môi trường, nữ giáo sư nhận thức rõ vai trò của tài nguyên nước và hạ tầng kỹ thuật nước đối với sự phát triển kinh tế - xã hội. "Ban đầu, tôi đến với lĩnh vực này khá giản dị, như một lựa chọn tự nhiên theo định hướng và truyền thống gia đình. Nhưng càng học, càng làm, càng va chạm thực tiễn, tôi càng thấy đây là một lĩnh vực rất thú vị. Quan trọng hơn, nó mang ý nghĩa lớn đối với con người, xã hội và môi trường", GS.TS. Trần Thị Việt Nga bộc bạch.

Nữ giáo sư với công nghệ mở lối "tái tạo" tài nguyên nước- Ảnh 3.

Theo bà, càng đi sâu vào nghề càng thấy quản lý nước và nước thải ngày nay không thể chỉ dừng ở mục tiêu "xử lý ô nhiễm" để cấp nước an toàn và bảo vệ môi trường. Bài toán đã mở rộng sang cách tiếp cận bền vững hơn: Duy trì cân bằng vòng tuần hoàn nước tự nhiên; khai thác và sử dụng nguồn nước hiệu quả trong bối cảnh biến đổi khí hậu; đồng thời hướng tới tận thu năng lượng và tài nguyên từ quá trình xử lý nước thải và bùn cặn theo định hướng kinh tế tuần hoàn. "Nước, đặc biệt là tài nguyên nước, cùng các giải pháp cấp nước, thoát nước, xử lý nước thải phục vụ đời sống kinh tế - xã hội vừa thiết yếu vừa thách thức. Chính điều đó tạo cho tôi động lực và năng lượng để gắn bó lâu dài với ngành", nữ giáo sư mỉm cười nhớ lại.

Đối với vị chuyên gia, cho đến tận bây giờ nhiệt huyết và đam mê cống hiến ấy vẫn chưa bao giờ vơi cạn. Dù là trong phòng thí nghiệm chật hẹp hay ngoài hiện trường nắng gió, nữ giáo sư vẫn miệt mài kiếm tìm những lời giải cho bài toán ô nhiễm nguồn nước, bền bỉ góp phần bảo vệ sức khỏe cộng đồng và chất lượng môi trường sống.

Nữ giáo sư với công nghệ mở lối "tái tạo" tài nguyên nước- Ảnh 4.

GS.TS. Trần Thị Việt Nga dành trọng tâm nghiên cứu xuyên suốt sự nghiệp cho việc phát triển và hoàn thiện các hệ thống công nghệ xử lý nước thải, với mục tiêu cốt lõi là phù hợp và tối ưu cho điều kiện thực tế tại Việt Nam - nơi nhu cầu xử lý, bảo vệ môi trường đang rất cấp bách. Trên hành trình đó, nữ giáo sư xác lập 2 hướng phát triển chủ đạo. Hướng thứ nhất là nhóm công nghệ tiên tiến, hiệu suất xử lý cao, tập trung vào ứng dụng công nghệ màng lọc trong xử lý nước và nước thải, nhằm nâng cao chất lượng xử lý và độ ổn định vận hành.

Hướng thứ hai là nhóm giải pháp công nghệ chi phí thấp nhưng vẫn đảm bảo hiệu quả, hướng tới khả năng áp dụng rộng rãi để giải quyết kịp thời các vấn đề môi trường không chỉ ở đô thị mà cả tại các khu vực nông thôn - nơi điều kiện đầu tư và vận hành còn nhiều hạn chế.

Nữ giáo sư với công nghệ mở lối "tái tạo" tài nguyên nước- Ảnh 5.

GS.TS. Trần Thị Việt Nga (người cầm sổ) cùng nhóm nghiên cứu triển khai mô hình thí điểm (Pilot) tại hiện trường, tháng 4/2025

Một trong những dấu ấn khoa học tiêu biểu nhất của nữ giáo sư là việc đi sâu phát triển công nghệ màng lọc trong điều kiện kỵ khí (AnMBR) để xử lý nước thải. Đây là một công nghệ sinh học tiên tiến có lợi thế về năng lượng, hiệu quả xử lý cao, cho phép thu hồi vật chất có ích từ dòng nước thải như khí sinh học được tạo thành từ quá trình phân hủy các hợp chất hữu cơ dùng làm nguồn năng lượng tái tạo để cấp nhiệt hay phát điện.

"Cách tiếp cận này làm thay đổi quan niệm trước đây, khi công trình xử lý nước thải chỉ được nhìn nhận như một công trình 'xử lý ô nhiễm'. Theo hướng mới, mục tiêu được nâng lên thành 'công trình tái tạo - thu hồi tài nguyên', qua đó mang lại nhiều giá trị hơn cho xã hội và môi trường", GS.TS. Trần Thị Việt Nga nhấn mạnh.

Quá trình nghiên cứu bài bản về phát triển cấu hình công nghệ AnMBR phù hợp, xác định các thông số thiết kế và vận hành tối ưu thông qua các nghiên cứu tại phòng thí nghiệm, các hệ thống pilot hiện trường và triển khai hiệu quả ở quy mô thực tế ở một số trạm xử lý nước thải sinh hoạt, nước thải của cơ sở chế biến gia súc và trạng trại chăn nuôi lợn là minh chứng đậm nét cho khả năng làm chủ công nghệ của nhóm nghiên cứu. Nữ giáo sư và cộng sự tiếp tục theo đuổi việc hoàn thiện công nghệ nhằm nội địa hóa sản xuất để giảm giá thành, phục vụ mục tiêu nhân rộng đáp ứng nhu cầu xử lý nước thải thực tế.

Nữ giáo sư với công nghệ mở lối "tái tạo" tài nguyên nước- Ảnh 6.

Sơ đồ công nghệ AnMBR và Bể kỵ khí kết hợp mođun màng đặt ngập

Bên cạnh hướng nghiên cứu phát triển các giải pháp công nghệ, GS.TS. Trần Thị Việt Nga còn ghi dấu ấn ở một bài toán quản lý nước đô thị quy mô lớn: Đề án phục hồi hệ thống sông nội đô Hà Nội (sông Tô Lịch, sông Lừ, sông Sét, sông Kim Ngưu) do UBND TP. Hà Nội đặt hàng, triển khai giai đoạn 2022-2023. 

Trong đề án này, nữ giáo sư và cộng sự đã sử dụng cách tiếp cận tổng hợp và hệ thống để giải quyết các vấn đề cấp bách của sông nội đô, cụ thể là xem xét hệ thống sông trong mối quan hệ tổng hòa với các nguồn nước trong lưu vực đô thị, bao gồm cả nước mưa và nước thải sau xử lý nhằm duy trì dòng chảy sinh thái, cải thiện chất lượng nước và kiểm soát úng ngập đô thị.

Đề án đã đề xuất các gói giải pháp công nghệ và quản lý nước phù hợp với các giai đoạn quy hoạch của thành phố Hà Nội. Đề án được đạt Giải Xuất sắc - Giải thưởng Quy hoạch đô thị quốc gia năm 2023 (hạng mục Chất lượng môi trường) và tháng 7/2025 đã được UBND TP. Hà Nội chính thức phê duyệt.

"Từ kinh nghiệm thực tế, tôi thấy rõ nếu chỉ có công nghệ, chúng ta không thể giải quyết đến nơi đến chốn. Cần có cách tiếp cận toàn diện và tổng hợp, kết nối các mắt xích từ quy hoạch, giải pháp công nghệ, mô hình quản lý và cơ chế tài chính phù hợp đến nguồn nhân lực chuyên môn sâu và sự tham gia thực sự của cộng đồng. Chỉ khi đó, chúng ta mới vừa xử lý ô nhiễm hiệu quả, vừa quản lý hệ thống nước đô thị cân bằng và bền vững", GS.TS. Trần Thị Việt Nga đúc kết.

Nữ giáo sư với công nghệ mở lối "tái tạo" tài nguyên nước- Ảnh 7.

Đây chính là lý do thôi thúc nữ giáo sư cùng nhóm nghiên cứu tiếp tục ngày đêm triển khai các hoạt động nghiên cứu định hướng ứng dụng trong phạm vi các đề tài, dự án tầm cỡ quốc gia và quốc tế. GS.TS Trần Thị Việt Nga và nhóm nghiên cứu đã thực hiện 21 đề tài, nhiệm vụ KH&CN các cấp, trong đó làm chủ nhiệm 12 đề tài (có 2 đề tài cấp Nhà nước, 6 đề tài cấp Bộ, 3 đề tài hợp tác quốc tế do Chính phủ Nhật Bản, Liên bang Đức, và Anh tài trợ). 

Hiện nay, GS đang chủ trì thực hiện dự án quốc tế SATREPS sử dụng nguồn kinh phí ODA của Nhật Bản, thực hiện trong giai đoạn 2023-2028, để phát triển hệ thống cấp nước thích ứng với nguồn nước ô nhiễm cho Việt Nam. Suốt hành trình miệt mài ấy, nữ giáo sư đã công bố 82 bài báo khoa học, trong đó có 40 bài thuộc danh mục tạp chí quốc tế SCIE/SCOPUS, là tác giả của 10 sách giáo trình, sách chuyên khảo và chương sách của nhà xuất bản quốc tế uy tín; đồng tác giả 1 bằng sáng chế quốc gia và chủ trì hai hợp đồng chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp.

Nữ giáo sư với công nghệ mở lối "tái tạo" tài nguyên nước- Ảnh 8.

GS.TS. Trần Thị Việt Nga (áo xanh đen), Chủ nhiệm Dự án SATREPS 2 “Phát triển hệ thống cấp nước thích ứng với nguồn nước ô nhiễm” phía Việt Nam - giới thiệu tổng quan về Dự án tại buổi làm việc giữa Trường Đại học Xây dựng Hà Nội và Đoàn công tác Đại học Nagasaki (Nhật Bản), tháng 7/2025.

Nữ giáo sư với công nghệ mở lối "tái tạo" tài nguyên nước- Ảnh 9.

Khi câu chuyện chuyển sang những phụ nữ làm khoa học, nữ giáo sư nhìn thẳng vào thực tế của nghề bằng giọng điềm tĩnh: "Tôi cho rằng khoa học về bản chất khá bình đẳng: Ai làm tốt thì có kết quả. Tuy nhiên, phụ nữ thường gánh nhiều vai trò - vừa công việc, vừa gia đình, làm vợ, làm mẹ - nên đòi hỏi khả năng quản lý thời gian và chịu áp lực", GS.TS. Trần Thị Việt Nga chia sẻ.

Theo nữ giáo sư, chính "đa nhiệm" cũng là một cách rèn luyện: Người phụ nữ buộc phải kiên trì, tỉ mỉ và biết sắp xếp công việc hiệu quả để theo đuổi nghiên cứu đường dài. "Tôi tin rằng những đóng góp của phụ nữ trong khoa học có thể thầm lặng. Nhưng không hề nhỏ, đối với dòng chảy khoa học công nghệ và sự phát triển của đất nước", GS.TS. Trần Thị Việt Nga khẳng định.

Nữ giáo sư với công nghệ mở lối "tái tạo" tài nguyên nước- Ảnh 10.

Nhà khoa học Trần Thị Việt Nga nhận Quyết định bổ nhiệm chức danh Giáo sư, tháng 12/2024.

Từ quan điểm ấy, nữ giáo sư dành nhiều ưu tiên cho việc đồng hành cùng lực lượng nghiên cứu trẻ, đặc biệt là các nhà khoa học nữ kế cận, để các bạn có thêm điểm tựa bền bỉ theo nghề. Trong giảng dạy, bà chú trọng giúp người học nắm chắc nền tảng, đồng thời tạo điều kiện để sinh viên tham gia nghiên cứu một cách bài bản thông qua đề tài, dự án và các hoạt động khoa học.

Bà đã hướng dẫn thành công 5 nghiên cứu sinh tiến sĩ và hơn 30 học viên thạc sĩ trong lĩnh vực Kỹ thuật môi trường, Kỹ thuật cấp thoát nước. Bà cũng là trưởng nhóm nghiên cứu Giải pháp nước tiên tiến (InWATER) quy tụ nhiều nữ giảng viên trẻ có đam mê và năng lực nghiên cứu khoa học xuất sắc của Trường Đại học Xây dựng Hà Nội.

Nữ giáo sư với công nghệ mở lối "tái tạo" tài nguyên nước- Ảnh 11.

GS.TS. Trần Thị Việt Nga (người thứ 7, từ trái sang) và các thành viên nhóm nghiên cứu Giải pháp nước tiên tiến (InWATER).

Từ nền tảng đó, sau khi được vinh danh, nữ giáo sư cho biết bà vẫn muốn tiếp tục xây dựng một "bệ đỡ" học thuật cho thế hệ kế cận, nhất là các nhà khoa học nữ trẻ và sinh viên nữ. 

"Sau giải thưởng, tôi vẫn có rất nhiều ý tưởng và kế hoạch và mong muốn có thể đóng góp nhiều hơn nữa cho các nghiên cứu phục vụ đời sống. Tôi cũng rất muốn hỗ trợ các nhà nghiên cứu trẻ, đặc biệt là các nhà khoa học nữ, để các bạn có điều kiện phát huy tốt hơn và đạt những cột mốc cao hơn trong sự nghiệp. Trong giáo dục - đào tạo, tôi mong có thể tạo ra môi trường tốt để lan tỏa niềm say mê và động lực theo đuổi lĩnh vực này, để nhiều sinh viên - nhất là các bạn nữ yêu kỹ thuật cấp thoát nước và kỹ thuật môi trường - tự tin dấn thân, khám phá năng lực và giá trị của bản thân. Qua đó mang lại lợi ích cho cộng đồng, xã hội. Cuối cùng là mang lại hạnh phúc", GS.TS. Trần Thị Việt Nga gửi gắm.

Nữ giáo sư với công nghệ mở lối "tái tạo" tài nguyên nước- Ảnh 12.

Lãnh đạo Trường Đại học Xây dựng Hà Nội chúc mừng GS.TS. Trần Thị Việt Nga nhân dịp bà được trao Giải thưởng Kovalevskaia năm 2025.

Lễ trao giải do Trung ương Hội LHPN Việt Nam và Ủy ban Giải thưởng Kovalevskaia Việt Nam tổ chức hằng năm vào dịp Ngày Quốc tế Phụ nữ (8/3), mỗi năm vinh danh 1 cá nhân, 1 tập thể nhà khoa học nữ xuất sắc trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, mỗi giải trị giá 3.000 USD.

Giai đoạn 2022-2025, lễ trao giải được tổ chức cùng chương trình gặp mặt của Lãnh đạo Chính phủ với phụ nữ điển hình toàn quốc nhân Ngày Quốc tế Phụ nữ. Qua đó khẳng định sự quan tâm, động viên của Đảng và Nhà nước đối với đội ngũ nữ trí thức.

Đến năm 2025, Ủy ban đã xét chọn và trao giải cho 22 tập thể, 57 cá nhân, trong đó 48 người đạt học hàm GS/PGS (trên 84%). Riêng Giải thưởng năm 2025 vinh danh 1 cá nhân là GS.TS. Trần Thị Việt Nga (Giảng viên cao cấp Khoa Kỹ thuật Môi trường và Viện trưởng Viện Công nghệ cao Việt - Nhật, Trường Đại học Xây dựng Hà Nội) ) và 1 tập thể với cụm công trình "Ứng dụng xúc tác sinh học nâng cao giá trị nông sản Việt" (thuộc Trường Hóa và Khoa học sự sống, Đại học Bách Khoa Hà Nội ).

Bên cạnh giải thưởng, từ năm 2016 còn có học bổng Kovalevskaia trao cho 3 nữ sinh chuyên Toán có thành tích học tập xuất sắc tại Trường Chuyên Khoa học Tự nhiên (Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội).


Thực hiện: Trường Hùng


Luật Thủ đô (sửa đổi): Khi "quyền trên giấy" phải đo bằng chất lượng sống của người dân

Luật Thủ đô (sửa đổi): Khi "quyền trên giấy" phải đo bằng chất lượng sống của người dân

Thời cuộc 16:57 16/04/2026

Dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi) với các cơ chế đặc thù cho Hà Nội chỉ thực sự có ý nghĩa khi được chuyển hóa thành những thay đổi hữu hình trong đời sống người dân hằng ngày. Nếu không tạo ra sự cải thiện thực chất về chất lượng sống, mọi quy định sẽ chỉ dừng lại ở "quyền trên giấy". Và vì thế, thước đo cuối cùng của đạo luật không nằm ở mức độ trao quyền, mà ở chính cuộc sống của người dân có tốt hơn hay không.

Hạnh phúc Việt Nam: Từ chỉ số đến đời sống - Bài cuối: Khi chính sách "chạm" tới từng gia đình

Hạnh phúc Việt Nam: Từ chỉ số đến đời sống - Bài cuối: Khi chính sách "chạm" tới từng gia đình

Xã hội 09:53 15/04/2026

Việt Nam thăng hạng hạnh phúc là tín hiệu tích cực nhưng giữ được hạnh phúc mới là bài toán dài hạn. Khi áp lực đời sống ngày càng đa chiều, từ kinh tế, quan hệ đến sức khỏe tinh thần, hạnh phúc không thể chỉ là cảm nhận. Từ việc xây dựng Bộ chỉ số gia đình hạnh phúc đến triển khai các mô hình hỗ trợ tại cộng đồng, một cách tiếp cận mới đang dần hình thành, trong đó đo lường giúp nhận diện vấn đề, can thiệp đúng địa chỉ và duy trì đồng hành từ cơ sở để hạnh phúc trở thành năng lực bền vững.

Vợ chồng quân nhân: Lan tỏa những giá trị tích cực để xây dựng môi trường mạng xã hội lành mạnh

Vợ chồng quân nhân: Lan tỏa những giá trị tích cực để xây dựng môi trường mạng xã hội lành mạnh

Gia đình 09:34 15/04/2026

Sinh ra trong gia đình có truyền thống nhiều thế hệ gắn bó với quân đội, vợ chồng Thượng tá Đỗ Anh Tuấn - Phó Chủ nhiệm Chính trị, Trung đoàn không quân 917 (Sư đoàn 370, Quân chủng Phòng không - Không quân) và Thượng tá Phạm Thị Hoa - Giảng viên Học viện Phòng không - Không quân, đến với nhau bằng tình yêu và sự gặp gỡ của lý tưởng, trách nhiệm.

Hạnh phúc Việt Nam: Từ chỉ số đến đời sống - Bài 2: Mạch ngầm hạnh phúc của người Việt

Hạnh phúc Việt Nam: Từ chỉ số đến đời sống - Bài 2: Mạch ngầm hạnh phúc của người Việt

Xã hội 21:58 10/04/2026

Mạch ngầm hạnh phúc thực sự của người Việt được dệt nên từ sợi dây gắn kết gia đình bền chặt và niềm tin cộng đồng thuần hậu. Từ nếp nhà nhiều thế hệ luôn ấm áp tình thân đến những xóm làng sẵn lòng nhường cơm sẻ áo lúc hoạn nạn, thiên tai, một triết lý nhân sinh giản dị mà mạnh mẽ luôn hiện hữu: Việt Nam có thể chưa giàu, nhưng chắc chắn là nơi "không ai bị bỏ lại phía sau".

Đắk Lắk: Gỡ "nút thắt" du lịch để biến di sản thành những câu chuyện giàu cảm xúc

Đắk Lắk: Gỡ "nút thắt" du lịch để biến di sản thành những câu chuyện giàu cảm xúc

Du lịch 17:20 09/04/2026

Hành trình khảo sát "Đắk Lắk - Về miền di sản" không chỉ là một chuyến đi thực địa đơn thuần, mà đã trở thành cuộc "hội chẩn" quy mô nhằm tìm kiếm những điểm thắt, gỡ bỏ rào cản và đánh thức tiềm năng du lịch Đắk Lắk thông qua lăng kính của sự thật và cảm xúc. Khởi nguồn từ khát vọng định vị lại giá trị của vùng đất đại ngàn, hơn 70 đại biểu từ các cơ quan báo chí và đơn vị lữ hành đã trải nghiệm buôn làng, di tích để "bắt mạch" thực trạng, từ đó hiến kế cho một chiến lược liên kết vùng bền vững.

Hạnh phúc Việt Nam: Từ chỉ số đến đời sống -  Bài 1: Lấy hạnh phúc của Nhân dân làm mục tiêu và động lực phát triển

Hạnh phúc Việt Nam: Từ chỉ số đến đời sống - Bài 1: Lấy hạnh phúc của Nhân dân làm mục tiêu và động lực phát triển

Xã hội 15:55 09/04/2026

Việc Việt Nam không ngừng thăng hạng trong Báo cáo “Hạnh phúc Thế giới” liên tiếp những năm gần đây cho thấy sự cải thiện đáng kể về chất lượng cuộc sống, an sinh xã hội và tinh thần của người dân. Đồng thời, khẳng định chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước ta khi lấy con người làm trung tâm, lấy hạnh phúc của Nhân dân làm mục tiêu phát triển bền vững.

"Hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp" - Bài cuối: Đề án 2415 - Kỳ vọng bứt phá

"Hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp" - Bài cuối: Đề án 2415 - Kỳ vọng bứt phá

Giới & Phát triển 14:20 31/03/2026

Khởi nghiệp với phụ nữ là hành trình bền bỉ vượt qua định kiến để khẳng định vai trò trong phát triển kinh tế. Đề án 2415 được kỳ vọng sẽ tiếp thêm động lực, nâng cao năng lực và thúc đẩy kết nối bền vững cho phụ nữ khởi nghiệp.

Đề án "Hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp" - Bài 2: Phụ nữ vượt định kiến, xây tương lai

Đề án "Hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp" - Bài 2: Phụ nữ vượt định kiến, xây tương lai

Giới & Phát triển 18:02 30/03/2026

Ở vùng cao Phú Thọ và Sơn La, nhiều phụ nữ dân tộc thiểu số đang vươn lên làm chủ kinh tế, nâng tầm nông sản bản địa. Từ nương rẫy, họ trở thành những nữ lãnh đạo bản lĩnh, góp phần mở ra hướng phát triển bền vững cho địa phương.