Sửa Luật Người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng: Chuyển mạnh sang "hậu kiểm"
Theo số liệu công bố chính thức từ Cục Quản lý lao động ngoài nước, chỉ riêng trong 6 tháng đầu năm 2026, cả nước đã đưa được hơn 66.000 lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài. Ảnh minh họa
Song hành với những con số tăng trưởng ấn tượng, thực tiễn gần 5 năm thi hành Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng đang đặt ra bài toán cấp bách trước làn sóng lừa đảo, lách luật tinh vi và yêu cầu tinh gọn bộ máy hành chính. Không thể duy trì tư duy quản lý theo lối mòn, dự thảo Luật sửa đổi lần này hướng tới một cuộc cách mạng về tư duy lập pháp.
Theo Tờ trình dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, qua gần 5 năm thực hiện, Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng số 69/2020/QH14 (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022) đã góp phần tạo hành lang pháp lý thông thoáng, minh bạch cho người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài và các doanh nghiệp, bảo đảm hội nhập quốc tế, hướng đến các tiêu chuẩn lao động quốc tế và nội luật hóa các cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Theo số liệu công bố chính thức từ Cục Quản lý lao động ngoài nước, chỉ riêng trong 6 tháng đầu năm 2026, cả nước đã đưa được 66.311 lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài (đạt 59,2% kế hoạch năm), tiếp tục duy trì vị thế vững chắc tại các thị trường trọng điểm như Nhật Bản (28.488 lao động), Đài Loan, Trung Quốc (28.205 lao động) và Hàn Quốc (3.373 lao động). Sự phát triển này không chỉ góp phần nâng cao thu nhập, bảo đảm an sinh xã hội mà còn nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quốc gia.

Thứ trưởng Bộ Nội vụ Vũ Chiến Thắng trình bày Tờ trình của Chính phủ
Dù vậy, đi cùng với những con số tăng trưởng ấn tượng là những mảng tối đáng lo ngại từ thực tế phát sinh. Các vụ việc lừa đảo, trục lợi từ dịch vụ xuất khẩu lao động có xu hướng ngày càng tinh vi. Tình trạng người lao động bị cưỡng bức lao động, bị cắt xén quyền lợi, hoặc rơi vào bẫy của các đường dây tổ chức xuất cảnh trái phép, mua bán người vẫn âm thầm diễn ra với nhiều biến tướng phức tạp.
Thực tế nhức nhối đó đặt ra yêu cầu cấp bách phải sửa đổi Luật nhằm tháo gỡ điểm nghẽn hành chính, tối ưu hóa công tác quản lý và bảo vệ thực chất quyền lợi của người lao động.
Tại sao có Luật mà vướng mắc vẫn phát sinh?
Tại phiên thẩm tra sơ bộ dự án Luật sửa đổi của Ủy ban Văn hóa và Xã hội, các đại biểu đã thẳng thắn chỉ ra những điểm nghẽn khiến hành lang pháp lý hiện hành chưa bắt kịp với những chuyển động phức tạp của thực tiễn. Nguyên nhân đầu tiên xuất phát từ sự biến động của thị trường cung ứng lao động.
Các hành vi biến tướng, trục lợi xuất hiện ngày càng nhiều nhưng hệ thống chế tài lại chưa bao quát hết. Nhiều khái niệm có tính chất then chốt trong quản lý như "trực tiếp tuyển chọn", "cho người khác sử dụng giấy phép" hoàn toàn vắng bóng định nghĩa pháp lý rõ ràng, dẫn đến tình trạng lúng túng, mỗi nơi áp dụng một kiểu khi tiến hành thanh tra, xử lý vi phạm.
Bên cạnh đó, kẽ hở trong quy định về điều kiện cấp Giấy phép đã vô tình tạo điều kiện cho một số doanh nghiệp sai phạm lách luật. Khi bị thu hồi giấy phép do vi phạm quyền lợi của người lao động, các đơn vị này dễ dàng thay tên đổi họ, mượn danh nghĩa khác để xin cấp lại, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường kinh doanh lành mạnh.
Một nguyên nhân khách quan nhưng mang tính quyết định là sự thay đổi căn bản trong mô hình tổ chức bộ máy nhà nước. Sau khi thực hiện chủ trương sắp xếp, tinh gọn hệ thống chính trị và chuyển đổi sang mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực này ở Trung ương đã chuyển giao từ Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về Bộ Nội vụ sau khi hợp nhất; ở địa phương do Sở Nội vụ tham mưu thực hiện. Điều này khiến toàn bộ các điều khoản viện dẫn cơ quan quản lý trong luật cũ trở nên lệch pha với thực tế.
Đặc biệt, tư duy quản lý cũ thiên về "tiền kiểm", kiểm soát đầu vào theo cơ chế "đăng ký - đợi chấp thuận" đang làm bó buộc doanh nghiệp. Việc phải chờ đợi phê duyệt phương án hay đăng ký chuẩn bị nguồn lao động khiến doanh nghiệp đánh mất tính chủ động, linh hoạt và bỏ lỡ những thời điểm vàng để tiếp cận thị trường lao động toàn cầu.
Chuyển mạnh sang "hậu kiểm" và lấy người lao động làm trung tâm
Để khắc phục triệt để các tồn tại trên, dự thảo Luật sửa đổi lần này tập trung vào các nhóm chính sách lớn, gồm: Cắt giảm thủ tục hành chính, đẩy mạnh phân quyền cho chính quyền địa phương phù hợp với mô hình 2 cấp, và xử lý các bất cập thực tiễn. Tinh thần cốt lõi của ban soạn thảo là chuyển đổi mạnh mẽ phương thức quản lý từ "tiền kiểm" sang "hậu kiểm" có trọng điểm, đề cao tính tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp. Thay đổi này bản chất là một cuộc "cởi trói" về thủ tục hành chính, chuyển từ tư duy “quản không được thì cấm, muốn làm phải xin” sang “doanh nghiệp tự làm, tự chịu trách nhiệm trước pháp luật”.
Cụ thể, nếu như trước đây, cơ chế "tiền kiểm" buộc doanh nghiệp phải trải qua quy trình "xếp hàng - chờ phê duyệt" hết sức khắt khe, như phải trình phương án, đợi cơ quan quản lý thẩm định xong từng hợp đồng cung ứng, duyệt kế hoạch chuẩn bị nguồn rồi mới được triển khai, khiến nhiều đơn vị đánh mất tính chủ động và lỡ mất "thời điểm vàng" để tiếp cận thị trường quốc tế. Thì nay, với cơ chế "hậu kiểm", rào cản hành chính đầu vào này sẽ được xóa bỏ. Doanh nghiệp được phép chủ động ký kết, đưa lao động đi làm việc ngay khi tự đánh giá đủ điều kiện. Cơ quan nhà nước sẽ chuyển từ vai trò "người gác cổng" thủ tục sang vai trò "trọng tài" giám sát, tập trung nguồn lực để thanh tra, kiểm tra trong và sau quá trình thực hiện, đồng thời áp dụng các chế tài xử phạt cực kỳ nghiêm khắc nếu phát hiện sai phạm.
Phát biểu tại buổi làm việc, các đại biểu Quốc hội đánh giá cao tư duy đổi mới của dự án Luật lần này. Đại biểu Quốc hội chuyên trách Nguyễn Thanh Cầm khẳng định: "Chúng tôi cơ bản nhất trí với Tờ trình và Báo cáo thẩm tra, đồng thời đánh giá cao tính nhân văn của dự án Luật. Quan điểm chính sách xuyên suốt ở đây phải là lấy người lao động làm trung tâm, tăng cường bảo vệ thực chất quyền lợi của người lao động. Việc cắt giảm thủ tục hành chính trong dự thảo là rất đáng ghi nhận, nhưng cần hướng tới sự đơn giản hóa một cách thực chất, đi vào chiều sâu chứ không thể mang tính hình thức."

Ủy viên là đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại Trần Thị Hồng An phát biểu
Nhiều ý kiến cũng cho rằng, bên cạnh việc tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, luật mới cần siết chặt các quy định bảo vệ người lao động trên môi trường số, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua đào tạo kỹ năng nghề và ngoại ngữ. Đặc biệt, cần có giải pháp quản lý chặt chẽ để ngăn chặn các hành vi trục lợi. Đại biểu Quốc hội chuyên trách Trần Thị Hồng An lưu ý: "Cần tiếp tục rà soát, bổ sung quy định về cơ chế phối hợp, chia sẻ thông tin giữa cơ quan quản lý lao động với các cơ quan chức năng để xác minh chặt chẽ về nhân thân. Điều này nhằm chủ động phòng ngừa việc lợi dụng hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài để thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật, tổ chức xuất cảnh trái phép, mua bán người hoặc cưỡng bức lao động."
Để bảo đảm luật sau khi ban hành có tuổi thọ cao và vận hành thông suốt, công tác kỹ thuật lập pháp và tính đồng bộ hệ thống cũng được mổ xẻ kỹ lưỡng. Thường trực Ủy ban Văn hóa và Xã hội đề nghị cơ quan soạn thảo tiếp tục rà soát tính thống nhất của dự thảo với Luật Việc làm, Luật Doanh nghiệp, Luật Giáo dục nghề nghiệp và Luật Phục hồi, phá sản.

Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội Nguyễn Đắc Vinh phát biểu kết luận phiên họp
Phát biểu kết luận phiên họp, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội Nguyễn Đắc Vinh nhấn mạnh nguyên tắc xây dựng luật hiện nay là tập trung đổi mới tư duy lập pháp, chỉ quy định những vấn đề lớn, mang tính ổn định cao: "Đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu, tiếp thu nghiêm túc các góp ý để hoàn thiện dự thảo đạt chất lượng cao nhất, bảo đảm tính thống nhất trong hệ thống pháp luật. Các thủ tục hành chính nên quy định trong các văn bản dưới luật thì sẽ thuận tiện và linh hoạt hơn trong quá trình triển khai sau này. Trước mắt, chúng ta tập trung sửa đổi các nội dung trong phạm vi điều chỉnh đã được Chính phủ thống nhất; những nội dung còn lại tiếp tục nghiên cứu tiếp thu để tiến tới sửa đổi toàn diện Luật sau này."
Với những sửa đổi mang tính đột phá và tư duy lập pháp đổi mới, dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng kỳ vọng sẽ khơi thông những điểm nghẽn thực tiễn, bảo vệ tối đa quyền lợi của công dân Việt Nam khi bước ra thị trường lao động quốc tế.