Xem thêm thông tin của Báo PNVN trên
Phụ nữ Việt Nam
MỚI NHẤT ĐỘC QUYỀN MULTIMEDIA CHUYÊN ĐỀ
09/11/2025 - 12:22 (GMT+7)
Thiên tai dị thường & Yêu cầu chủ động ứng phó - Bài cuối: Từ tâm lũ nghĩ đến thích ứng để phát triển bền vững
Thế giới đã bước vào kỷ nguyên thiên tai dị thường. Việt Nam cũng liên tiếp hứng chịu lũ dữ, đặc biệt tại Nam Trung Bộ. Trong khủng hoảng thiên tai, tinh thần đại đoàn kết dân tộc và “không ai bị bỏ lại phía sau” luôn tỏa sáng. Những bất thường của thời tiết đặt ra yêu cầu cấp thiết: Chủ động thích ứng để bảo đảm an toàn và phát triển bền vững.


Sức mạnh đoàn kết, những tấm gương quên mình và sự cứu trợ kịp thời đã giữ vững điểm tựa nhân văn trong thiên tai. Nhưng để thoát khỏi vòng lặp mất mát, Việt Nam không thể chỉ dựa vào điểm tựa tinh thần. Giờ là lúc phải hành động quyết liệt, chuyển hóa kinh nghiệm đau thương thành chiến lược thích ứng mang tính hệ thống, biến chống chịu khí hậu thành con đường phát triển an toàn.

Rạng sáng ngày 1/8/2025, giữa lúc trận lũ quét, sạt lở đất nghiêm trọng ập về bản Háng Pu Xi, tỉnh Điện Biên, Trưởng bản Mùa A Thi (26 tuổi) đã dũng cảm lao vào dòng lũ đêm, gọi dân chạy nạn và cõng người già thoát thân, cứu 90 nhân khẩu thoát khỏi thảm họa. Hành động quyết đoán, kịp thời này đã được Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính chỉ đạo khen thưởng. 

Sự dũng cảm của anh Mùa A Thi là biểu tượng của tinh thần tương thân tương ái, nhưng đồng thời cũng là tiếng chuông cảnh báo về sự mong manh của khả năng chống chịu hiện tại.

Thiên tai dị thường & Yêu cầu chủ động ứng phó - Bài cuối: Từ tâm lũ nghĩ đến thích ứng để phát triển bền vững- Ảnh 1.

Một trận lũ quét, sạt lở đất nghiêm trọng

Thiên tai dị thường & Yêu cầu chủ động ứng phó - Bài cuối: Từ tâm lũ nghĩ đến thích ứng để phát triển bền vững- Ảnh 2.
Thiên tai dị thường & Yêu cầu chủ động ứng phó - Bài cuối: Từ tâm lũ nghĩ đến thích ứng để phát triển bền vững- Ảnh 3.

Những thiệt hại do cơn bão Matmo gây ra tại Thái Nguyên

Thiên tai dị thường & Yêu cầu chủ động ứng phó - Bài cuối: Từ tâm lũ nghĩ đến thích ứng để phát triển bền vững- Ảnh 4.

Công tác cứu hộ sau trận lũ quét

Sau hàng loạt trận bão lũ liên tiếp trong năm 2025, Việt Nam đã hứng chịu những mất mát kinh hoàng về người và của. Thiệt hại vật chất và cơ sở hạ tầng thiết yếu bị hư hại nặng nề, gây ảnh hưởng lớn đến cuộc sống và hoạt động kinh tế. Đã đến lúc Việt Nam phải chuyển đổi mô hình quản trị rủi ro, không thể để tính mạng và tài sản của người dân chỉ được bảo vệ bằng các giải pháp ứng phó mang tính tình thế, mà cần thiết lập một hệ thống phòng ngừa và thích ứng đồng bộ, khoa học.

Việt Nam đã sớm nhìn nhận ra vấn đề và chủ động xác lập các định hướng lớn của quốc gia, tại Hội nghị lần thứ 7, Ban Chấp hành TƯ Đảng đã thông qua Nghị quyết 24-NQ/TW ngày 3/6/2013 về "Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường", Cam kết đạt mức phát thải ròng bằng 0 (Net Zero) vào năm 2050, cho đến Quyết định số 379/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt Chiến lược quốc gia phòng, chống thiên tai đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Tuy nhiên, để các chiến lược này đi vào thực tiễn, cần sự đồng bộ từ chính sách đến hành động cộng đồng.

Đột phá bằng công nghệ và thể chế

Việt Nam cần một chiến lược chuyển đổi hệ thống, hướng tới khả năng quản trị rủi ro khí hậu, tập trung vào sự đồng bộ giữa công nghệ và thể chế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, thách thức lớn nhất của chúng ta hiện nay là khoảng cách giữa khoa học và hành động, và việc quản lý rủi ro còn thiếu khung pháp lý cứng rắn. Để giải quyết thách thức kép này, việc ưu tiên phá vỡ khoảng cách hành động bằng công nghệ là bước đi then chốt.

Như đại biểu Quốc hội Nguyễn Việt Nga phân tích, cảnh báo phải chuyển mạnh sang "cảnh báo theo tác động", tức là phải trả lời được câu hỏi cốt lõi: "Lượng mưa đó sẽ khiến nhà tôi ngập đến đâu? Tôi phải sơ tán khi nào?".

Sự bị động của Tổ dân phố 40, phường Phan Đình Phùng, thành phố Thái Nguyên, với hơn 1.100 nhân khẩu, trong trận bão Matmo là minh chứng rõ nhất cho sự thất bại trong chuyển hóa thông tin. Cộng đồng này đã chủ quan do nhiều năm không thấy lụt lớn, dẫn đến việc họ bán hết thuyền bè và không có sự chuẩn bị tại chỗ. Hậu quả là, mặc dù có cảnh báo sớm, họ đã bị cô lập hoàn toàn suốt 4-5 ngày, không điện, không sóng điện thoại. Nỗi sợ hãi và sự bất lực này phản ánh trực tiếp hậu quả của việc cảnh báo thiếu tính cụ thể, không được chuyển hóa thành hành động phòng ngừa thực tế và sự lơ là chuẩn bị tại chỗ.

Trước bối cảnh này, TS. Scott McDonald (ĐH RMIT Việt Nam) đề xuất Việt Nam nên ứng dụng các hệ thống cảnh báo sớm tiên tiến dựa trên trí tuệ nhân tạo (AI): "Các hệ thống này tích hợp dữ liệu mưa, mực nước hồ và quỹ đạo bão để cung cấp cảnh báo sớm 48-72 giờ. Tính cụ thể của cảnh báo phải được mã hóa ngay từ đầu: AI phải mô phỏng khu vực ngập lụt, độ sâu dự kiến và thời gian di chuyển an toàn". TS. Scott McDonald nhấn mạnh: "Chính sự gia tăng thời gian cảnh báo và tính cụ thể này mới là cơ sở để chuyển đổi ngôn ngữ kỹ thuật thành hành động thực tế tại cơ sở".

Thiên tai dị thường & Yêu cầu chủ động ứng phó - Bài cuối: Từ tâm lũ nghĩ đến thích ứng để phát triển bền vững- Ảnh 5.

Hệ thống dự báo và cảnh báo thiên tai

Công nghệ hiện đại phải được đặt trong một khung khổ pháp lý và quy hoạch cứng rắn. Đây là điều kiện cần để đảm bảo các cảnh báo không bị lãng phí.

Đầu tiên, về kiểm soát thông tin, ông Hoàng Đức Cường, Phó Cục trưởng Cục Khí tượng Thủy văn, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đề xuất ban hành quy định để kiểm soát và hạn chế thông tin dự báo thiên tai không có nguồn gốc chính thức trên mạng xã hội.

Thứ hai, về tái thiết thể chế, cần hoàn thiện hành lang pháp lý về cảnh báo sớm đa thiên tai, trong đó phân định rõ trách nhiệm giữa các bộ, ngành và địa phương, đồng thời chuẩn hóa quy trình phát tin và tiếp nhận thông tin cảnh báo. PGS.TS Phạm Thị Thanh Ngà, Viện trưởng Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn & Biến đổi khí hậu và đại biểu Quốc hội Trịnh Xuân An đều đề xuất rà soát lại toàn bộ thủy điện nhỏ và quy trình xả lũ, trong đó phải đảm bảo ưu tiên dành dung tích hữu ích của hồ để cắt lũ cho hạ du. Cụ thể là quy hoạch phải tính đủ rủi ro thiên tai trên cơ sở kịch bản khí hậu mới, đảm bảo mọi quy hoạch dân cư, hạ tầng đều gắn với quản trị rủi ro thiên tai. Đồng thời cần hoàn thiện cơ chế giải trình và kiên quyết không cho phép phát triển nhà ở tại các vùng rủi ro cao.

Thích ứng chủ động tại cộng đồng

Chiến lược vĩ mô chỉ thành công khi được hỗ trợ bởi khả năng tự chủ của người dân và sự can thiệp sớm của lực lượng tại chỗ. Đây là tuyến phòng thủ đầu tiên giúp giảm gánh nặng cho hệ thống cứu hộ công cộng.

Khả năng thích ứng bắt đầu bằng văn hóa chủ động và sự chuẩn bị tại chỗ. Điển hình cho sự chủ động là câu chuyện tại làng cổ Thiên Hương, xã Đồng Văn, Tuyên Quang. Làng cổ nằm chênh vênh bên bờ vực sông Nho Quế đã phải đối mặt với nguy cơ sụt lún nghiêm trọng khi địa chất bị đe dọa. Trước tình thế đó, cán bộ và chiến sĩ Đồn Biên phòng Đồng Văn đã không chờ thảm họa xảy ra. Họ kịp thời lập các chốt theo dõi 24/7 tại khu vực sụt lún, tổ chức di dời khẩn cấp 100% người già và trẻ nhỏ, đồng thời phối hợp với dân quân địa phương gia cố tạm thời các điểm xung yếu. Phân tích cho thấy, sự can thiệp sớm và liên tục của lực lượng quân đội tại chỗ đã biến một thảm họa địa chất tiềm tàng thành một tình huống được kiểm soát an toàn, cứu được di sản văn hóa và bảo toàn tính mạng của người dân.

Bài học tương phản sắc nét nhất đến từ phường Phan Đình Phùng, thành phố Thái Nguyên, trong trận lũ sau bão Matmo năm 2025: Tổ dân phố 39 đã chuyển đổi kinh nghiệm đau thương từ những trận bão trước thành hành động phòng ngừa. Họ đã xây dựng "nhà an toàn gia cố tầng áp mái" và dự trữ nhu yếu phẩm. Nhờ đó, họ tự chủ được khi bị cô lập, giảm thiểu gánh nặng cứu hộ. Ngược lại, Tổ dân phố 40 rơi vào tình trạng bị động, cô lập và bất lực do chủ quan cho rằng lũ không còn lớn và thiếu sự chuẩn bị.

Thiên tai dị thường & Yêu cầu chủ động ứng phó - Bài cuối: Từ tâm lũ nghĩ đến thích ứng để phát triển bền vững- Ảnh 6.

Thiên tai dị thường & Yêu cầu chủ động ứng phó - Bài cuối: Từ tâm lũ nghĩ đến thích ứng để phát triển bền vững- Ảnh 7.

Sự khác biệt này khẳng định vai trò của cộng đồng như tuyến phòng thủ đầu tiên của quốc gia. Chiến lược thích ứng chủ động đòi hỏi phải vượt qua tâm lý chủ quan, biến nhận thức rủi ro thành khả năng tự cứu có tổ chức thông qua việc đầu tư nhỏ vào kỹ năng, vật chất và thường xuyên giáo dục ứng phó thiên tai ngay từ trường học, nhằm tạo ra sự chuyển biến thực chất từ bị động sang chủ động.

Để nhân rộng các mô hình này, việc chủ động nâng cao năng lực ứng phó cộng đồng là tối quan trọng. Cục Khí tượng Thủy văn khuyến cáo người dân tuyệt đối không chủ quan hoặc nghe theo những nguồn tin không kiểm chứng và cần liên tục cập nhật bản tin chính thức, bởi lẽ "các thông tin dự báo thời tiết cực đoan có thể thay đổi theo từng giờ". 

Về mặt kỹ năng, TS. Scott McDonald (ĐH RMIT Việt Nam) đặc biệt khuyến nghị việc đào tạo kỹ năng sống còn thông qua việc chuẩn bị "túi khẩn cấp" với nhu yếu phẩm cho 72 giờ đến hai tuần và các phương tiện thô sơ như bè tre thủ công. Song song đó, cần tăng cường truyền thông rủi ro cộng đồng theo hướng thường xuyên, tập trung vào các nhóm dễ bị tổn thương, tăng cường giáo dục kỹ năng ứng phó thiên tai trong trường học và khuyến khích địa phương xây dựng kịch bản ứng phó dựa trên rủi ro, nhằm tạo ra sự chuyển biến thực chất từ nhận thức sang hành động.

Tích cực phục hồi lá chắn sinh thái tự nhiên

Lá chắn tự nhiên suy giảm là một trong những nguyên nhân trực tiếp làm tăng cường mức độ thiên tai. Cần phải coi phục hồi hệ sinh thái là khoản đầu tư dài hạn cho sự an toàn của quốc gia.

Thiên tai dị thường & Yêu cầu chủ động ứng phó - Bài cuối: Từ tâm lũ nghĩ đến thích ứng để phát triển bền vững- Ảnh 8.

Rừng là lá chắn tự nhiên và là giải pháp bền vững phòng ngừa ngăn chặn tác hại của thiên tai

Theo đó, giải pháp căn cơ là coi đầu tư phục hồi rừng đầu nguồn và các vùng đất ngập nước là giải pháp bền vững và tiết kiệm nhất về lâu dài so với các biện pháp công trình thuần túy. Đại diện tổ chức WildAct đã kêu gọi cộng đồng tích cực tham gia bảo tồn, xem việc khôi phục lá chắn sinh thái là hành động bảo vệ sinh kế trực tiếp của mình. Phân tích kinh tế đã chứng minh: Mỗi 1 USD đầu tư vào hệ thống cảnh báo sớm có thể giúp giảm 6-10 USD thiệt hại. Đầu tư vào phòng ngừa, thông qua cả công nghệ và phục hồi sinh thái, chính là khoản đầu tư sinh lời cao nhất cho sự bình yên.

Kim chỉ nam cho hoạt động ứng phó thiên tai

Trước tình hình thiên tai ngày càng cực đoan, khó lường, và để chấm dứt vòng lặp mất mát kinh hoàng đã diễn ra trong năm 2025, việc chỉ đạo quyết liệt và đồng bộ từ cấp cao nhất là tối cần thiết.

Kết luận số 213-KL/TW ngày 21/11/2025 của Ban Bí thư TƯ Đảng chính là kim chỉ nam hành động cho toàn bộ hệ thống chính trị, thể hiện sự kiên quyết của Đảng trong việc chuyển từ trạng thái ứng phó tình thế sang chủ động thích ứng và quản trị rủi ro khí hậu. Kết luận nêu rõ quan điểm tôn trọng quy luật tự nhiên, và coi đây là vấn đề sống còn, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển bền vững của đất nước.

    Thiên tai dị thường & Yêu cầu chủ động ứng phó - Bài cuối: Từ tâm lũ nghĩ đến thích ứng để phát triển bền vững- Ảnh 9.

Vượt lên những mất mát, hành động lúc này là sự chuyển giao đầy ý nghĩa: Từ ánh lửa dũng cảm của từng cá nhân sang khả năng chống chịu bền vững của cả quốc gia. Bằng cách kết nối công nghệ hiện đại, khung pháp lý nhân văn và tinh thần tự cứu của cộng đồng, Việt Nam đang cùng nhau viết nên một chương mới, đầy kiên cường, cho dân tộc mình. Đây không chỉ là một chiến lược thích ứng, mà là một lời thề son sắt cho tương lai: Mỗi quyết sách hôm nay là gieo mầm cho sự bình yên và phồn vinh của những thế hệ mai sau. Quản trị rủi ro khí hậu, vì thế, chính là khoản đầu tư thiêng liêng nhất, đảm bảo cho tầm nhìn phát triển Việt Nam bền vững và thịnh vượng.

Mỗi quyết sách hôm nay là gieo mầm cho sự bình yên và phồn vinh của những thế hệ mai sau

NHÓM PV

Không để sáng kiến nằm trên giấy

Không để sáng kiến nằm trên giấy

Giới & Phát triển 17:13 02/10/2026

Với đề xuất, tham mưu 9 đề tài, giải pháp, sáng kiến từ năm 2020 đến nay, trong đó có những cách làm được nhân rộng trên toàn tỉnh, điều chị Phạm Thị Hằng, Phó Chủ tịch thường trực Hội LHPN thành phố Bắc Ninh, quan tâm sau mỗi sáng kiến không chỉ là được công nhận, mà có thể áp dụng thế nào ở cơ sở.

"Muốn Hội mạnh, trước hết phải để phụ nữ thấy Hội ở ngay bên mình"

"Muốn Hội mạnh, trước hết phải để phụ nữ thấy Hội ở ngay bên mình"

Giới & Phát triển 14:39 02/10/2026

Từ những câu chuyện nhỏ của phụ nữ trong mỗi chuyến đi cơ sở, chị Ngô Thị Hồng Huệ, Phó Chủ tịch Hội LHPN tỉnh Hưng Yên tìm ra những việc Hội cần làm. Hơn một thập kỷ gắn bó với công tác Hội, chị bền bỉ dựng nền móng từ tổ chức, cán bộ đến những cách làm mới, để Hội gần phụ nữ hơn.

Đồng hành cùng phụ nữ vùng cao khởi nghiệp, làm chủ công nghệ, chuyển đổi xanh

Đồng hành cùng phụ nữ vùng cao khởi nghiệp, làm chủ công nghệ, chuyển đổi xanh

Kinh tế 22:46 01/10/2026

Chuyển đổi số đang mở thêm những cơ hội mới cho phụ nữ khởi nghiệp, nhưng khoảng cách về kỹ năng, ngôn ngữ, hạ tầng và khả năng tiếp cận công nghệ vẫn là thách thức, nhất là với phụ nữ dân tộc thiểu số. Bà Vũ Thị Quỳnh Anh, Phó Cố vấn trưởng Dự án GREAT, chia sẻ cách đưa công nghệ đến gần hơn với phụ nữ, từ kỹ năng số cơ bản đến quản trị kinh doanh, mở rộng thị trường và hướng tới những mô hình kinh doanh bền vững.

Nghệ nhân Quốc gia Chơn Diệu Ngọc: Nâng niu văn hóa trà Việt

Nghệ nhân Quốc gia Chơn Diệu Ngọc: Nâng niu văn hóa trà Việt

Văn hóa 16:07 01/10/2026

Khởi đầu từ những ấm trà tuổi thơ năm 6 tuổi, hành trình gần 40 năm gắn bó với trà của Nghệ nhân quốc gia Chơn Diệu Ngọc (Đậu Thị Thủy) - nhà sáng lập kiêm Chủ tịch Không gian Văn hóa Hội quán Trúc Lâm - không dừng lại ở việc thưởng thức hay chế biến. Với chị, đó là cuộc dấn thân bền bỉ nhằm tìm lại “căn cước” cho trà Việt và định hình một di sản sống của văn hóa dân tộc.

Chuyển hướng sau 2  tuần, gắn bó với STEM suốt 25 năm

Chuyển hướng sau 2 tuần, gắn bó với STEM suốt 25 năm

Giáo dục 10:03 25/09/2026

Gần 25 năm trước, TS Ngô Thị Duyên bắt đầu hành trình nghề nghiệp từ giảng đường Sư phạm Hóa, rồi bất ngờ rẽ sang công nghệ chỉ sau hai tuần nhập học. Lựa chọn ấy đưa cô trở thành giảng viên, nhà nghiên cứu tại Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội - nơi cô vừa đứng trên bục giảng, vừa theo đuổi những câu hỏi của khoa học công nghệ. Với cô, phụ nữ đến với STEM không nhất thiết phải bắt đầu bằng việc chứng minh mình khác biệt, mà có thể đơn giản là chọn một lĩnh vực mình có năng lực, hứng thú và sẵn sàng đi đường dài.

Từ đêm hội Trung thu đến toa thuốc nghĩa tình

Từ đêm hội Trung thu đến toa thuốc nghĩa tình

Xã hội 09:49 25/09/2026

Tối hôm trước là tiếng cười các em nhỏ rộn ràng trong đêm hội Trung thu. Sáng hôm sau là những mái đầu bạc lặng lẽ chờ đến lượt khám bệnh. Hai hoạt động nối tiếp nhau trong cùng một chuyến đi về Lấp Vò (Đồng Tháp) mang theo những món quà khác nhau nhưng cùng bắt đầu từ sự sẻ chia: để trẻ em có thêm một mùa Trung thu ấm áp, để người nghèo, người cao tuổi và những hoàn cảnh khó khăn có thêm cơ hội được chăm sóc sức khỏe.

Phụ nữ tóc bạc khởi nghiệp bằng kinh nghiệm và tạo giá trị kinh tế

Phụ nữ tóc bạc khởi nghiệp bằng kinh nghiệm và tạo giá trị kinh tế

Kinh tế 10:46 14/09/2026

Khái niệm khởi nghiệp thường gắn liền với người trẻ. Tuy nhiên, thực tiễn tại Việt Nam đang chứng minh một làn sóng ngược dòng đầy ấn tượng: Lực lượng người cao tuổi đang trở thành nguồn lực kinh tế quan trọng của đất nước.

Nhìn lại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất: Những quyết sách từ thực tiễn cuộc sống

Nhìn lại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất: Những quyết sách từ thực tiễn cuộc sống

Thời cuộc 16:33 27/08/2026

Sau một kỳ họp với khối lượng công việc lớn, Quốc hội đã thông qua nhiều luật, nghị quyết nhằm tập trung tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực, hỗ trợ người dân, doanh nghiệp và tạo thêm động lực cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số. Điểm đáng chú ý không chỉ nằm ở số lượng văn bản được thông qua, mà còn ở cách tư duy lập pháp đang chuyển mạnh theo hướng sát thực tiễn, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm.