Xem thêm thông tin của Báo PNVN trên
Phụ nữ Việt Nam
MỚI NHẤT ĐỘC QUYỀN MULTIMEDIA CHUYÊN ĐỀ

Xóa bỏ vòng luẩn quẩn lao động không công của phụ nữ trong xã hội già hóa

Kim Thị (Thực hiện)
Xóa bỏ vòng luẩn quẩn lao động không công của phụ nữ trong xã hội già hóa

Các nghiên cứu của Liên hợp quốc tại Việt Nam cảnh báo rằng khi dân số già hóa, nhu cầu chăm sóc người cao tuổi có thể tiếp tục tạo thêm áp lực lên sự tham gia của phụ nữ trên thị trường lao động nếu thiếu các dịch vụ và chính sách hỗ trợ phù hợp

Đối mặt với tốc độ già hóa thuộc diện nhanh nhất thế giới, Việt Nam đang đặt tới 72% gánh nặng chăm sóc người cao tuổi lên vai phụ nữ. Bà Phạm Thị Lan, Trưởng nhóm Dân số và Phát triển của Quỹ Dân số Liên hợp quốc tại Việt Nam (UNFPA), phân tích những khoảng trống trong hệ thống an sinh và chỉ ra các giải pháp thiết thực để phát triển kinh tế chăm sóc, tháo gỡ gánh nặng vô hình và thúc đẩy bình đẳng giới.

Thách thức già hóa và khoảng trống an sinh

PV: Việt Nam đang đối mặt với tốc độ già hóa dân số thuộc diện nhanh nhất thế giới trong bối cảnh mức thu nhập trung bình còn khiêm tốn, "chưa giàu đã già". Dưới góc nhìn của bà, khi cấu trúc gia đình truyền thống thu hẹp lại, áp lực và khối lượng công việc chăm sóc (cả y tế và phi y tế) cho người cao tuổi sẽ gia tăng mạnh mẽ như thế nào trong những năm tới và hệ thống xã hội của Việt Nam phải đối mặt với những khoảng trống nào?

Bà Phạm Thị Lan: Việt Nam đang trải qua quá trình già hóa nhanh. Theo dự báo dân số mới nhất của Cục Thống kê và UNFPA, Việt Nam sẽ trở thành quốc gia "già" vào năm 2034, kết thúc chặng đường khoảng 23 năm chuyển từ giai đoạn "già hóa" sang "dân số già" - ngắn hơn nhiều so với các nước phương Tây như Pháp là 115 năm, Thụy Điển là 85 năm. Trong thập kỷ tới, ước tính cứ khoảng 5 người Việt Nam thì sẽ có 1 người từ 60 tuổi trở lên. Sự chuyển đổi nhân khẩu học này không đơn thuần là việc có nhiều người cao tuổi hơn. Đó là một sự chuyển dịch mang tính cấu trúc, sẽ định hình lại cách chúng ta tổ chức hệ thống chăm sóc sức khỏe, an sinh xã hội, việc làm, nhà ở, cộng đồng, gia đình và nền kinh tế nói chung. 

Chúng ta đều biết người cao tuổi ngày nay không còn giống như người cao tuổi trước đây. Ngày nay, người dân sống thọ hơn, đặc biệt phụ nữ sống thọ hơn nam giới. Theo báo cáo Dân số và Nhà ở giữa kỳ năm 2024, tuổi thọ trung bình giữa nam và nữ chênh lệch đáng kể, trong đó nam là 72,3 năm và nữ là 77,3 năm. Phụ nữ và nam giới trải qua quá trình già hóa theo những cách khác nhau và nhu cầu về chăm sóc sức khỏe cũng như chăm sóc dài hạn đang gia tăng mạnh mẽ. Trong bối cảnh quy mô gia đình thay đổi cũng như những thay đổi về di cư và đô thị hóa, sự dịch chuyển này đang định hình lại sự gắn kết giữa các thế hệ cũng như cách thức chăm sóc người cao tuổi.

Xóa bỏ vòng luẩn quẩn lao động không công của phụ nữ trong xã hội già hóa- Ảnh 1.

Bà Phạm Thị Lan, Trưởng nhóm Dân số và Phát triển của Quỹ Dân số Liên hợp quốc tại Việt Nam (UNFPA)

Thách thức lớn hiện nay là hệ thống dịch vụ chăm sóc vẫn đang trong quá trình phát triển. Khoảng 99% người cao tuổi đang sống tại nhà và chủ yếu dựa vào gia đình khi cần chăm sóc, trong khi các hình thức chăm sóc khác còn ít. Việt Nam đang đứng trước một thay đổi rất lớn về nhu cầu chăm sóc khi dân số già hóa nhanh, trong khi cấu trúc gia đình và khả năng cung cấp chăm sóc trong gia đình đang thay đổi. Trong những năm tới, nhu cầu chăm sóc sẽ gia tăng trên cả 2 phương diện. Một mặt, khi tuổi thọ tăng, số người sống lâu với các bệnh mạn tính, đa bệnh lý, suy giảm chức năng và cần hỗ trợ trong các hoạt động hằng ngày cũng sẽ tăng. Điều này đòi hỏi không chỉ chăm sóc y tế, mà còn rất nhiều dịch vụ chăm sóc phi y tế như hỗ trợ ăn uống, vệ sinh cá nhân, đi lại, quản lý thuốc, phục hồi chức năng, hỗ trợ tâm lý và duy trì đời sống xã hội. Từ đó đặt ra nhu cầu cần xây dựng một hệ thống chăm sóc tích hợp, toàn diện, có thể đáp ứng các nhu cầu chăm sóc đa dạng của người dân, nhất là khu vực nông thôn, nơi có tới gần 2/3 người cao tuổi hiện đang sinh sống. 

Đặc biệt, cần chuyển dần từ mô hình chăm sóc chủ yếu dựa vào gia đình và điều trị khi có bệnh sang một hệ thống chăm sóc dài hạn, trong đó chăm sóc tại nhà và tại cộng đồng được tăng cường, đồng thời kết nối hiệu quả với các cơ sở y tế và các dịch vụ chăm sóc chuyên nghiệp. Điều này cũng đòi hỏi đầu tư sớm vào xây dựng mạng lưới chăm sóc, tăng cường đào tạo nhân lực chăm sóc, chuyên nghiệp hóa nghề chăm sóc, hỗ trợ người chăm sóc không chuyên trong gia đình, và phát triển các cơ chế tài chính phù hợp để chia sẻ chi phí chăm sóc. 

Quan trọng hơn, hệ thống này cần được thiết kế để người cao tuổi có quyền lựa chọn hình thức chăm sóc phù hợp - tại nhà, tại cộng đồng, tại trung tâm chăm sóc ban ngày hoặc tại cơ sở chăm sóc tập trung - thay vì chỉ có một lựa chọn khi nhu cầu chăm sóc trở nên nghiêm trọng.

Xóa bỏ vòng luẩn quẩn lao động không công của phụ nữ trong xã hội già hóa- Ảnh 2.

99% người cao tuổi phụ thuộc vào chăm sóc của gia đình và phụ nữ đảm nhiệm khoảng 72% trách nhiệm chăm sóc.

Gánh nặng vô hình và bài toán bình đẳng giới

PV: Thực tế cho thấy phần lớn gánh nặng chăm sóc không tên, không lương tại các hộ gia đình đang đặt lên vai phụ nữ, làm hạn chế cơ hội tham gia thị trường lao động chính thức và thăng tiến của họ. Theo các nghiên cứu và khuyến nghị của UNFPA, làm thế nào để Việt Nam phá vỡ vòng luẩn quẩn này, giảm sự phụ thuộc vào lao động chăm sóc không công của phụ nữ thông qua các chính sách vĩ mô và sự can thiệp của nhà nước?

Bà Phạm Thị Lan: Theo tôi, đối với chăm sóc người cao tuổi, Việt Nam cần nhìn nhận đây không còn là vấn đề riêng của từng gia đình mà đang trở thành một vấn đề chính sách công và một cấu phần quan trọng của hệ thống an sinh xã hội.

Theo UNFPA, 99% người cao tuổi phụ thuộc vào chăm sóc của gia đình và phụ nữ đảm nhiệm khoảng 72% trách nhiệm chăm sóc. Điều đó cho thấy gánh nặng chăm sóc không chỉ là vấn đề của người cao tuổi mà còn là vấn đề về bình đẳng giới và cơ hội kinh tế của phụ nữ. Vì vậy, để phá vỡ vòng luẩn quẩn này, tôi cho rằng Việt Nam cần chuyển từ tư duy "gia đình phải tự chăm sóc người cao tuổi" sang tư duy "xã hội cùng chia sẻ trách nhiệm chăm sóc".

Thứ nhất, Nhà nước cần đầu tư và xây dựng một hệ thống chăm sóc dài hạn cho người cao tuổi. Hệ thống này cần có nhiều tầng và nhiều lựa chọn: chăm sóc tại nhà, chăm sóc dựa vào cộng đồng, trung tâm chăm sóc ban ngày, chăm sóc bán trú và cơ sở chăm sóc chuyên nghiệp. Đây cũng chính là hướng mà các chính sách hiện nay của Việt Nam đang bắt đầu đặt ra, bao gồm xây dựng các mô hình chăm sóc dài hạn, chăm sóc có thời hạn, chăm sóc bán trú và nhà xã hội an toàn tại cộng đồng.

Xóa bỏ vòng luẩn quẩn lao động không công của phụ nữ trong xã hội già hóa- Ảnh 3.

Ảnh minh họa

Điều đặc biệt quan trọng là phát triển dịch vụ chăm sóc tại nhà và cộng đồng, nhất là ở khu vực nông thôn. Không phải người cao tuổi nào cũng cần hoặc muốn vào cơ sở chăm sóc tập trung. Một hệ thống tốt phải giúp người cao tuổi có thể tiếp tục sống trong gia đình và cộng đồng nếu họ mong muốn, nhưng gia đình không phải tự mình cung cấp toàn bộ dịch vụ chăm sóc. UNFPA cũng nhấn mạnh nhu cầu xây dựng một hệ sinh thái chăm sóc toàn diện, với các dịch vụ y tế, xã hội và hỗ trợ sinh hoạt hằng ngày có tính tiếp cận, phù hợp về chi phí và nhu cầu cá nhân của người cao tuổi.

Thứ hai, cần hỗ trợ trực tiếp người chăm sóc trong gia đình. Gia đình vẫn giữ vai trò trung tâm trong chăm sóc người cao tuổi, vì vậy, chính sách cần giúp giảm thời gian và cường độ chăm sóc mà gia đình phải đảm nhiệm. Điều này có thể bao gồm đào tạo kỹ năng chăm sóc, tư vấn và hỗ trợ tâm lý, dịch vụ chăm sóc ban ngày, chăm sóc thay thế tạm thời (respite care), chăm sóc tại nhà và kết nối người chăm sóc với các dịch vụ y tế và xã hội. 

Chiến lược quốc gia về người cao tuổi đến năm 2035 đã đặt mục tiêu đến năm 2030 có ít nhất 50% và đến năm 2035 có ít nhất 70% gia đình có người cao tuổi bị suy giảm trí nhớ, khuyết tật nặng hoặc có các khó khăn khác được tập huấn, hướng dẫn về chăm sóc, trợ giúp và phục hồi chức năng.

Xóa bỏ vòng luẩn quẩn lao động không công của phụ nữ trong xã hội già hóa- Ảnh 4.

Chuyên nghiệp hóa chăm sóc không chỉ để người cao tuổi được chăm sóc tốt hơn, mà còn để biến một phần công việc chăm sóc không được trả công hiện nay thành việc làm được trả công, có đào tạo, tiêu chuẩn nghề nghiệp và bảo vệ lao động.

Thứ ba, Việt Nam cần chính thức hóa và chuyên nghiệp hóa công việc chăm sóc người cao tuổi. Hiện nay, chăm sóc vẫn chủ yếu được thực hiện trong gia đình, trong khi lực lượng chăm sóc chuyên nghiệp và các dịch vụ hỗ trợ còn rất hạn chế. Chính Bộ Y tế cũng đang xây dựng định hướng phát triển mạng lưới nhân viên chăm sóc người cao tuổi đa tầng - tại nhà, cộng đồng, cơ sở bán trú và lưu trú - đồng thời hướng tới đào tạo và chuẩn hóa lực lượng chăm sóc. Đây là điểm rất quan trọng: chuyên nghiệp hóa chăm sóc không chỉ để người cao tuổi được chăm sóc tốt hơn, mà còn để biến một phần công việc chăm sóc không được trả công hiện nay thành việc làm được trả công, có đào tạo, tiêu chuẩn nghề nghiệp và bảo vệ lao động.

Thứ tư, chính sách chăm sóc người cao tuổi cần được nhìn nhận đồng thời là chính sách về bình đẳng giới và việc làm. Nếu một phụ nữ phải rời khỏi thị trường lao động hoặc từ bỏ cơ hội thăng tiến để chăm sóc cha mẹ hoặc người thân cao tuổi, chi phí không chỉ xuất hiện ở hiện tại mà còn kéo dài đến tương lai thông qua thu nhập thấp hơn, tích lũy bảo hiểm xã hội thấp hơn và nguy cơ nghèo khi về già cao hơn. Các nghiên cứu của Liên hợp quốc tại Việt Nam cũng cảnh báo rằng khi dân số già hóa, nhu cầu chăm sóc người cao tuổi có thể tiếp tục tạo thêm áp lực lên sự tham gia của phụ nữ trên thị trường lao động nếu thiếu các dịch vụ và chính sách hỗ trợ phù hợp. Vì vậy, đầu tư cho phát triển hệ thống chăm sóc người cao tuổi không nên được xem đơn thuần là một khoản chi an sinh. Đó là đầu tư vào sức khỏe và phẩm giá của người cao tuổi, vào bình đẳng giới, vào việc làm và vào năng suất của nền kinh tế. 

UNFPA đã nhấn mạnh rằng hệ thống chăm sóc cần được phát triển theo hướng toàn diện, đa dạng và có tính chuyên nghiệp, thay vì tiếp tục dựa quá nhiều vào nguồn lực chăm sóc không được trả công của gia đình. Mục tiêu không phải là thay thế gia đình trong việc chăm sóc người cao tuổi, mà là hỗ trợ gia đình để họ không phải một mình gánh toàn bộ trách nhiệm chăm sóc. Khi Nhà nước đầu tư vào dịch vụ chăm sóc, thị trường cung cấp các dịch vụ chất lượng và giá cả phù hợp, cộng đồng tham gia và nam giới cùng chia sẻ trách nhiệm, chúng ta có thể từng bước chuyển từ mô hình "phụ nữ chăm sóc không công trong gia đình" sang một hệ sinh thái chăm sóc công bằng, chuyên nghiệp và bền vững hơn.

Xóa bỏ vòng luẩn quẩn lao động không công của phụ nữ trong xã hội già hóa- Ảnh 5.

Đầu tư phát triển nền kinh tế chăm sóc không chỉ là giải pháp để đáp ứng nhu cầu chăm sóc ngày càng gia tăng, mà còn là một hướng đi chiến lược để tạo việc làm, thúc đẩy bình đẳng giới và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững.

Kiến tạo hệ sinh thái kinh tế chăm sóc bền vững

PV: Nhiều nước trên thế giới coi kinh tế chăm sóc là một động lực tăng trưởng mới, có thể tạo ra hàng triệu việc làm. Tuy nhiên, bài toán đặt ra là làm thế nào để chuyên nghiệp hóa lĩnh vực này thành một ngành kinh tế tạo việc làm hấp dẫn mà vẫn bảo đảm chất lượng dịch vụ và quyền lợi (bảo hiểm xã hội, mức lương, điều kiện làm việc) cho lực lượng lao động - vốn phần lớn là nữ giới làm việc trong khu vực phi chính thức?

Bà Phạm Thị Lan: Già hóa dân số là xu hướng mang tính toàn cầu, đang diễn ra ở cả các quốc gia phát triển và đang phát triển, với tốc độ và quy mô khác nhau. Khi con người sống thọ hơn, nhu cầu về chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, hỗ trợ sinh hoạt và chăm sóc dài hạn cũng ngày càng gia tăng. Việt Nam cũng đang trong quỹ đạo đó. 

Theo đánh giá của Liên hợp quốc và UNFPA tại Việt Nam năm 2025, số người cao tuổi cần hỗ trợ trong các hoạt động sinh hoạt hàng ngày được dự báo tăng từ khoảng 4,7 triệu người năm 2025 lên 6,5 triệu người năm 2035, tức tăng khoảng 38% chỉ trong 1 thập kỷ. Trong khi đó, khoảng 99% người cao tuổi hiện đang được chăm sóc tại nhà và khoảng 72% người chăm sóc là phụ nữ. Hệ thống hiện tại vì vậy khó có thể đáp ứng nhu cầu trong tương lai nếu vẫn chủ yếu dựa vào gia đình.

Trong bối cảnh đó, kinh tế chăm sóc (care economy) đang nổi lên không chỉ như một lĩnh vực đáp ứng nhu cầu xã hội mà còn như một động lực mới của tăng trưởng và tạo việc làm. Nếu được đầu tư và tổ chức phù hợp, việc phát triển các dịch vụ chăm sóc có thể đồng thời tạo thêm việc làm, đặc biệt cho phụ nữ, nâng cao chất lượng cuộc sống của người cao tuổi và giảm khối lượng công việc chăm sóc không được trả công trong các gia đình. 

Tuy nhiên, để hiện thực hóa tiềm năng này, cần tránh việc "thương mại hóa" chăm sóc theo hướng tạo ra những công việc giá rẻ và thiếu bảo vệ. Một nền kinh tế chăm sóc bền vững phải dựa trên dịch vụ có chất lượng, lực lượng lao động được đào tạo và chuyên nghiệp hóa, việc làm thỏa đáng, tiền lương và bảo hiểm xã hội phù hợp, và cơ chế tài chính để người dân có khả năng tiếp cận dịch vụ.

Xóa bỏ vòng luẩn quẩn lao động không công của phụ nữ trong xã hội già hóa- Ảnh 6.

Việt Nam cần xây dựng một hệ thống chăm sóc tích hợp, liên tục và đa tầng, từ phòng ngừa, chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng đến hỗ trợ các hoạt động sinh hoạt hằng ngày.

PV: Để đầu tư cho kinh tế chăm sóc thực sự là đầu tư cho phụ nữ và sự phát triển bền vững của Việt Nam trong giai đoạn tới, bà có những khuyến nghị chính sách ưu tiên nào dành cho các nhà hoạch định chính sách của Việt Nam?

Bà Phạm Thị Lan: Tại Việt Nam, dân số đang già hóa nhanh trong khi mô hình chăm sóc truyền thống dựa chủ yếu vào gia đình đang chịu sức ép ngày càng lớn. Đầu tư phát triển nền kinh tế chăm sóc không chỉ là giải pháp để đáp ứng nhu cầu chăm sóc ngày càng gia tăng, mà còn là một hướng đi chiến lược để tạo việc làm, thúc đẩy bình đẳng giới và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững.

Trên cơ sở đó, tôi xin đề xuất 5 ưu tiên chính sách:

Thứ nhất, Việt Nam cần xây dựng một hệ thống chăm sóc tích hợp, liên tục và đa tầng, từ phòng ngừa, chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng đến hỗ trợ các hoạt động sinh hoạt hằng ngày. Hệ thống này cần phát triển đồng thời các hình thức chăm sóc tại nhà, chăm sóc dựa vào cộng đồng, trung tâm chăm sóc ban ngày và chăm sóc nội trú, để người cao tuổi có lựa chọn phù hợp với nhu cầu và hoàn cảnh. Đặc biệt, cần ưu tiên mở rộng dịch vụ chăm sóc tại nhà và cộng đồng để thúc đẩy già hóa tại chỗ, tăng cường kết nối liên thế hệ. Đây cũng được xem là hình thức mang lại hiệu quả chi phí cao.

Thứ hai, đầu tư vào lực lượng lao động chăm sóc và biến chăm sóc thành một nghề có giá trị. Cần xây dựng mã nghề, khung năng lực và tiêu chuẩn nghề nghiệp, đào tạo và cấp chứng chỉ, tạo lộ trình phát triển nghề nghiệp và từng bước chính thức hóa lực lượng chăm sóc hiện nay. Chuyên nghiệp hóa không thể chỉ có nghĩa là đào tạo thêm người chăm sóc. Việc làm chăm sóc phải là việc làm thỏa đáng, với tiền lương phù hợp, hợp đồng lao động, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, thời giờ làm việc hợp lý và điều kiện làm việc an toàn. Nếu không, chúng ta chỉ chuyển gánh nặng chăm sóc từ những phụ nữ làm việc không công trong gia đình sang những phụ nữ làm việc với thu nhập thấp ngoài thị trường.

Thứ ba, xây dựng cơ chế tài chính để dịch vụ chăm sóc vừa có chất lượng vừa đảm bảo khả năng chi trả. Nếu dịch vụ chăm sóc chỉ dựa vào khả năng thanh toán của từng hộ gia đình, một bộ phận lớn người cao tuổi sẽ không thể tiếp cận. Việt Nam cần nghiên cứu sự kết hợp giữa đầu tư ngân sách nhà nước, các chương trình an sinh xã hội, cơ chế bảo hiểm, đóng góp của hộ gia đình theo khả năng và sự tham gia của khu vực tư nhân. Mục tiêu là tạo ra một thị trường dịch vụ chăm sóc có nhu cầu thực, nhưng không để khả năng tiếp cận phụ thuộc hoàn toàn vào thu nhập của gia đình.

Thứ tư, đặt bình đẳng giới vào trung tâm của chính sách kinh tế chăm sóc. Cần đo lường tốt hơn thời gian và giá trị của công việc chăm sóc không được trả công, đưa chỉ tiêu về chăm sóc và phân bổ thời gian theo giới vào hệ thống thống kê và hoạch định chính sách, đồng thời thiết kế các chính sách hỗ trợ người chăm sóc trong gia đình. Khi chúng ta biết có bao nhiêu thời gian đang được dành cho chăm sóc không được trả công, ai đang thực hiện công việc đó, chi phí cơ hội đối với phụ nữ là bao nhiêu và nhu cầu dịch vụ sẽ tăng như thế nào trong quá trình già hóa, chúng ta mới có thể thiết kế chính sách và phân bổ nguồn lực phù hợp. Quan trọng hơn, cần khuyến khích nam giới chia sẻ trách nhiệm chăm sóc và tạo điều kiện để phụ nữ không phải rời khỏi thị trường lao động hoặc hy sinh cơ hội nghề nghiệp vì trách nhiệm chăm sóc cha mẹ và người thân cao tuổi.

Thứ năm, xây dựng một hệ sinh thái chăm sóc với sự tham gia của Nhà nước, thị trường và cộng đồng. Nhà nước cần giữ vai trò kiến tạo - xây dựng khung pháp lý, tiêu chuẩn chất lượng, đào tạo nhân lực, bảo vệ người lao động và người sử dụng dịch vụ, đồng thời đầu tư vào những nơi thị trường khó tự cung cấp, đặc biệt ở vùng nông thôn và đối với nhóm thu nhập thấp. Khu vực tư nhân và các tổ chức xã hội có thể phát triển các mô hình dịch vụ mới, nhưng phải hoạt động trong một khuôn khổ bảo đảm chất lượng, khả năng chi trả và quyền của người sử dụng dịch vụ.

Tôi cho rằng đây chính là cơ hội để Việt Nam chuyển từ một mô hình "gia đình tự chăm sóc" sang một "xã hội cùng chăm sóc". Nếu được đầu tư đúng hướng, kinh tế chăm sóc có thể tạo ra một vòng tròn tích cực: người cao tuổi được chăm sóc tốt hơn - gia đình giảm gánh nặng - phụ nữ có nhiều cơ hội tham gia thị trường lao động hơn - việc làm chăm sóc trở nên chuyên nghiệp và có chất lượng hơn - và nền kinh tế có thêm một động lực tăng trưởng mới. Đó sẽ là một khoản đầu tư không chỉ cho người cao tuổi hôm nay, mà còn cho một Việt Nam khỏe mạnh hơn, bình đẳng hơn và bền vững hơn trong một xã hội đang già hóa.

PV: Xin trân trọng cảm ơn bà!

Ý kiến của bạn
Bình luận