PV: Thưa bà, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình đã được sửa đổi, bổ sung với nhiều điểm tiến bộ. Tuy nhiên, dư luận vẫn cho rằng hiệu quả thực thi còn hạn chế. Bà nhìn nhận vấn đề này như thế nào?
TS. Phùng Thị Quỳnh Trang: Có thể nói Việt Nam đã xây dựng được khung pháp lý khá đầy đủ để phòng, chống bạo lực gia đình, từ luật chuyên ngành đến các văn bản hướng dẫn. Tuy nhiên, khoảng cách giữa chính sách và thực tế vẫn tồn tại. Vấn đề không phải luật thiếu mà là năng lực thực thi chưa đồng đều giữa các địa phương. Có nơi triển khai rất tốt nhưng cũng có nơi việc áp dụng còn mang tính hình thức.
Tiến sĩ Phùng Thị Quỳnh Trang, chuyên gia nghiên cứu giới và phát triển xã hội
Một trong những nguyên nhân lớn là nguồn lực hạn chế. Luật quy định nhiều biện pháp hỗ trợ nạn nhân nhưng ngân sách phân bổ cho hoạt động này ở cơ sở thường chưa tương xứng với nhiệm vụ và yêu cầu liên ngành. Cán bộ phụ trách vừa thiếu chuyên môn chuyên sâu, vừa kiêm nhiệm nhiều việc nên khó theo sát từng trường hợp. Khi nguồn lực không đủ, hệ thống hỗ trợ dễ rơi vào tình trạng "có tên nhưng chưa có thực chất".
Ngoài ra, nhận thức xã hội cũng ảnh hưởng đáng kể. Không ít người vẫn coi bạo lực gia đình là chuyện riêng tư, dẫn đến tâm lý ngại can thiệp. Điều này khiến nhiều vụ việc không được báo cáo hoặc chỉ được xử lý khi đã nghiêm trọng. Nếu cộng đồng chưa thay đổi cách nhìn, luật khó phát huy hết tác dụng.
Không ít người vẫn coi bạo lực gia đình là chuyện riêng tư, dẫn đến tâm lý ngại can thiệp. Ảnh minh họa
PV: Một vấn đề thường được nhắc đến là mô hình "địa chỉ tin cậy" ở cộng đồng chưa phát huy hiệu quả. Theo bà, điểm nghẽn nằm ở đâu?
TS. Phùng Thị Quỳnh Trang: "Địa chỉ tin cậy" là sáng kiến rất nhân văn, bởi đây là tuyến hỗ trợ đầu tiên cho nạn nhân khi họ cần nơi an toàn. Tuy nhiên, nhiều điểm chưa đạt chuẩn vận hành và chuẩn dịch vụ tối thiểu, hoạt động chủ yếu dựa vào tinh thần tự nguyện, thiếu kinh phí, thiếu đào tạo chuyên môn và thiếu cơ sở vật chất. Một số nơi thậm chí không có phòng riêng để bảo đảm bí mật thông tin cho người tìm đến.
Muốn mô hình này hiệu quả, cần coi đây là một cấu phần chính thức trong hệ thống an sinh xã hội, chứ không phải hoạt động phong trào. Điều đó đồng nghĩa với việc phải có ngân sách ổn định, có quy chuẩn vận hành, có cơ chế giám sát và đánh giá định kỳ. Đặc biệt, người làm công tác hỗ trợ phải được đào tạo về tâm lý, pháp lý và kỹ năng xử lý khủng hoảng, bởi họ tiếp xúc trực tiếp với nạn nhân đang ở trạng thái tổn thương.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, khi mạng lưới hỗ trợ cộng đồng được đầu tư bài bản, tỷ lệ nạn nhân tìm kiếm trợ giúp tăng lên rõ rệt. Điều này không chỉ giúp bảo vệ cá nhân mà còn góp phần ngăn chặn vòng lặp bạo lực trong gia đình và xã hội.
PV: Một nội dung được nhiều chuyên gia đề xuất là cần cơ chế bảo vệ khẩn cấp hiệu quả hơn cho nạn nhân. Theo bà, nên bắt đầu từ đâu?
TS. Phùng Thị Quỳnh Trang: Cơ chế bảo vệ khẩn cấp là yếu tố then chốt, bởi trong nhiều trường hợp, thời gian quyết định mức độ an toàn của nạn nhân. Hiện pháp luật đã có quy định về biện pháp cấm tiếp xúc như một công cụ ngăn chặn và bảo vệ nạn nhân nhưng thủ tục áp dụng đôi khi còn phức tạp, khiến việc bảo vệ chưa kịp thời. "Độ nhanh" phụ thuộc rất lớn vào việc "kích hoạt" đúng thẩm quyền và giám sát thực thi. Chẳng hạn, ở tuyến cơ sở, Chủ tịch UBND cấp xã có thể áp dụng cấm tiếp xúc trong thời hạn ngắn để xử lý tình huống khẩn; còn Tòa án có thể ra quyết định cấm tiếp xúc trong thời hạn dài hơn trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự.
Tôi thấy cần đơn giản hóa quy trình ban hành biện pháp khẩn cấp, trao quyền chủ động hơn cho lực lượng tuyến đầu như công an cơ sở hoặc chính quyền địa phương khi có dấu hiệu nguy hiểm rõ ràng, hướng dẫn nghiệp vụ công an xã theo văn bản mới hơn. Đồng thời, phải có cơ chế giám sát việc thực thi lệnh bảo vệ, ví dụ thông qua hệ thống theo dõi hoặc phối hợp cộng đồng. Nếu chỉ ban hành trên giấy mà không kiểm soát, hiệu quả sẽ rất hạn chế.
Một yếu tố quan trọng khác là liên thông dịch vụ. Nạn nhân thường phải tự mình đi qua nhiều cơ quan để hoàn tất thủ tục, từ khai báo, khám thương đến tư vấn pháp lý. Quy trình này vừa mất thời gian vừa gây tổn thương tâm lý. Vì vậy, cần phát triển mô hình hỗ trợ "một cửa" (quản lý ca, chuyển tuyến và cung cấp dịch vụ tích hợp), nơi họ có thể tiếp cận đầy đủ dịch vụ trong cùng một hệ thống.
PV: Bà đánh giá thế nào về vai trò của các tổ chức xã hội và đoàn thể trong việc lấp đầy khoảng trống thực thi?
TS. Phùng Thị Quỳnh Trang: Vai trò của các tổ chức xã hội là vô cùng quan trọng, bởi họ thường là cầu nối gần nhất với cộng đồng. Chẳng hạn, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đã triển khai nhiều mô hình hỗ trợ nạn nhân, truyền thông thay đổi nhận thức và tư vấn pháp lý (Theo Luật Trợ giúp pháp lý 2017, nạn nhân trong vụ việc bạo lực gia đình là nhóm được trợ giúp pháp lý khi thuộc diện khó khăn về tài chính hoặc đồng thời thuộc nhóm khác như trẻ em, hộ nghèo…). Những hoạt động này giúp luật không chỉ tồn tại trên văn bản mà đi vào đời sống.
“Địa chỉ tin cậy” là sáng kiến rất nhân văn, bởi đây là tuyến hỗ trợ đầu tiên cho nạn nhân khi họ cần nơi an toàn
Ngoài ra, các tổ chức xã hội còn đóng vai trò quan trọng trong truyền thông thay đổi chuẩn mực. Họ có thể triển khai các chiến dịch dài hạn nhằm xóa bỏ định kiến giới, khuyến khích cộng đồng lên tiếng trước bạo lực. Đây là yếu tố nền tảng, bởi phòng ngừa luôn hiệu quả và ít tốn kém hơn xử lý hậu quả.
PV: Một đề xuất đáng chú ý là lồng ghép phòng, chống bạo lực trên cơ sở giới vào các chương trình phát triển kinh tế. Vì sao giải pháp này được coi là chiến lược lâu dài?
TS. Phùng Thị Quỳnh Trang: Bạo lực trên cơ sở giới không chỉ là vấn đề xã hội mà còn gắn chặt với yếu tố kinh tế. Nhiều nghiên cứu cho thấy phụ nữ phụ thuộc tài chính có nguy cơ chịu bạo lực cao hơn và khó rời khỏi môi trường độc hại. Vì vậy, nếu chỉ can thiệp ở khía cạnh pháp lý mà không cải thiện điều kiện kinh tế, hiệu quả sẽ không bền vững.
Khi phụ nữ có việc làm, thu nhập ổn định và cơ hội tiếp cận giáo dục, vị thế của họ trong gia đình sẽ thay đổi. Điều này giúp giảm nguy cơ bạo lực ngay từ gốc. Do đó, việc lồng ghép nội dung phòng, chống bạo lực vào các chương trình giảm nghèo, đào tạo nghề hay phát triển sinh kế, phát triển bao trùm và trao quyền kinh tế gắn với an toàn là hướng đi rất quan trọng.
Ở tầm chính sách, Quốc hội Việt Nam và các cơ quan quản lý cần thúc đẩy cách tiếp cận liên ngành, coi phòng, chống bạo lực là chỉ tiêu phát triển xã hội chứ không chỉ là nhiệm vụ của một lĩnh vực riêng lẻ. Khi mục tiêu này được tích hợp vào chiến lược kinh tế - xã hội, nguồn lực và sự phối hợp sẽ mạnh mẽ hơn.
PV: Theo bà, đâu là điều kiện tiên quyết để những giải pháp nêu trên thực sự đi vào cuộc sống?
TS. Phùng Thị Quỳnh Trang: Điều kiện tiên quyết là cam kết chính trị đi kèm nguồn lực thực tế. Nếu chỉ dừng ở chủ trương mà không có ngân sách, nhân lực và cơ chế giám sát, mọi kế hoạch đều khó thành công. Bên cạnh đó, cần hệ thống dữ liệu minh bạch để đánh giá hiệu quả thực thi, ví dụ số vụ việc được xử lý, mức độ hài lòng của nạn nhân hay thời gian phản ứng của cơ quan chức năng. Dữ liệu sẽ giúp nhà quản lý nhận diện điểm yếu và điều chỉnh chính sách kịp thời.
Một yếu tố không kém phần quan trọng là sự tham gia của cộng đồng. Phòng, chống bạo lực không thể chỉ là nhiệm vụ của cơ quan chức năng. Khi hàng xóm, tổ dân phố, trường học và nơi làm việc, cộng đồng mạng cùng lên tiếng, môi trường xã hội sẽ trở nên an toàn hơn. Thay đổi nhận thức cộng đồng chính là nền tảng để luật phát huy hiệu lực lâu dài.
Song song hỗ trợ, bảo vệ, đánh giá nguy cơ và kế hoạch an toàn, cần bảo đảm tính răn đe và trách nhiệm pháp lý của người gây bạo lực thông qua xử phạt vi phạm hành chính và xử lý hình sự khi đủ dấu hiệu.
Tôi tin rằng, khi chúng ta đồng thời đầu tư cho hệ thống hỗ trợ, hoàn thiện cơ chế bảo vệ khẩn cấp và thúc đẩy phát triển kinh tế bao trùm, công tác phòng, chống bạo lực trên cơ sở giới sẽ có bước tiến rõ rệt. Khi đó, luật pháp không chỉ tồn tại trên văn bản mà thực sự trở thành lá chắn bảo vệ cho những người dễ bị tổn thương.
PV: Trân trọng cảm ơn bà!
Độc lập tài chính giúp giảm nguy cơ bạo lực và tăng khả năng tự bảo vệ
TRƯỜNG LÊ (thực hiện)
Thiết kế: TRẦN THẮNG
19/03/2026 18:10
"Đừng chê học nghề" - Bài cuối: Cần xác định lại tầm quan trọng của học nghề
Giáo dục 06:37 07/05/2026Bao giờ học nghề mới thoát khỏi định kiến “học kém đi đường cùng”? Đáp án của câu hỏi này cũng là lời giải bài toán giảm áp lực căng thẳng cho cuộc đua vào lớp 10 công lập hay đại học. Mặt khác, bối cảnh AI đang dần thay thế nhiều công việc văn phòng, học nghề lại “Viral” - nổi lên một cách giàu tiềm năng và khẳng định: những công việc đòi hỏi tay nghề cao thì còn lâu AI mới làm được.
Cô gái 9X "nghiện" đi du lịch một mình
Thế giới phụ nữ 08:00 05/05/2026Tôi gặp Lê Thị Nhung trong một buổi chiều trải nghiệm đi thuyền trên sông Nho Quế (Tuyên Quang), khi cô gái 9X mặc váy trắng đang tỉ mỉ đặt chiếc điện thoại lên chân máy, lùi lại vài bước để căn chỉnh góc hình rồi nhẹ nhàng bước vào khuôn hình của chính mình. Phía sau mỗi khung hình ấy là những hành trình nơi cô gái trẻ đã chọn đi một mình để cân bằng cuộc sống.
Đừng chê học nghề - Bài 1: Học nghề chủ động, không phải “học kém đi đường cùng”
Giáo dục 07:47 04/05/2026Không có nghề nào cao quý hơn nghề nào, chỉ có con người làm nên giá trị cao quý của nghề. Có nhiều con đường để đi đến thành công và học nghề là một trong những con đường ngang bằng với tất cả con đường khác. Học nghề là chủ động đi con đường thực tế không phải “học kém đi đường cùng”.
Thời trang và cuộc cách mạng tôn vinh tuổi tác
Thế giới phụ nữ 18:16 03/05/2026Tạp chí Vogue đã tạo một tiền lệ chưa từng có khi đưa hai người phụ nữ ở tuổi 76 lên trang bìa số tháng 5: Diễn viên Meryl Streep và Anna Wintour, Tổng biên tập của Vogue. Động thái này nằm trong xu hướng tôn vinh vẻ đẹp của "tuổi xế chiều" đang lan tỏa từ sàn catwalk đến đời sống. Đúng như Anna Wintour khẳng định: “Tuổi tác hiện nay thực sự là một lợi thế”.
Hơn 840.000 ca tử vong tại nơi làm việc mỗi năm liên quan đến sức khỏe tinh thần
Sức khỏe 11:14 01/05/2026Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), mỗi năm có khoảng 12 tỷ ngày làm việc bị mất do trầm cảm và lo âu, gây thiệt hại tới 1.000 tỷ USD cho nền kinh tế toàn cầu vì suy giảm năng suất lao động. Chủ đề của Ngày Quốc tế lao động 1/5 năm nay được xác định là “Sức khoẻ tinh thần và phẩm giá tại nơi làm việc” nhằm nêu bật tính cấp thiết của vấn đề này.
Chuyển đổi số & yêu cầu phát triển bao trùm - Bài cuối: Thể chế hóa bình đẳng giới trong chuyển đổi số
Giới & Phát triển 20:00 27/04/2026Với tỉ lệ phụ nữ chiếm một nửa dân số và 63% tham gia lực lượng lao động, công cuộc chuyển đổi số ở nước ta sẽ chỉ thực sự thành công khi phụ nữ tích cực tham gia vào tất cả các trụ cột của chuyển đổi số.
Chuyển đổi số & yêu cầu phát triển bao trùm - Bài 4: Hội LHPN Việt Nam trong hành trình trao quyền số cho phụ nữ
Giới & Phát triển 11:33 27/04/2026Trong dòng chảy sôi động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chuyển đổi số không còn là một khái niệm xa vời mà đã trở thành yêu cầu sống còn để tồn tại và phát triển. Đối với phụ nữ Việt Nam, công nghệ số vừa là cánh cửa mở ra cơ hội bình đẳng, vừa là thách thức lớn nếu họ bị bỏ lại phía sau do rào cản về kỹ năng và định kiến.
Chuyển đổi số & yêu cầu phát triển bao trùm - Bài 3: Bên trong những "chiếc bẫy số"
Giới & Phát triển 22:05 26/04/2026Trong kỷ nguyên số, chỉ một cú nhấp chuột có thể mở ra cơ hội nhưng cũng có thể dẫn tới rủi ro. Không gian mạng đang trở thành “mặt trận” mới của lừa đảo, bạo lực và xâm hại trực tuyến, trong đó phụ nữ và trẻ em là nhóm chịu tổn thương rõ rệt nhất. Khi chuyển đổi số diễn ra nhanh hơn khả năng bảo vệ, bất bình đẳng không những không thu hẹp mà còn có nguy cơ bị khoét sâu hơn.





