Sau hơn 30 năm thực hiện Cương lĩnh Hành động Bắc Kinh và Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021-2030, Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững - không để ai bị bỏ lại phía sau, Việt Nam có bước tiến quan trọng về bình đẳng giới. Tuy nhiên, ngân sách có trách nhiệm giới nhằm tiến tới bình đẳng thực chất mới đạt được kết quả bước đầu. Còn rất nhiều vấn đề đặt ra cần giải quyết.
Hội thảo Khoa học Quốc gia: “Chính sách tài khóa có trách nhiệm Giới gắn với mục tiêu phát triển bao trùm và ứng phó thách thức nhân khẩu học trong kỷ nguyên phát triển mới ở Việt Nam” do Đại học Kinh tế Quốc dân phối hợp với Cơ quan Liên hợp quốc về Bình đẳng giới và Trao quyền cho Phụ nữ (UN- Women) tại Việt Nam và Đại sứ quán Australia tổ chức ngày 21/01/2026 tại Hà Nội
6h sáng, chị Trịnh Thị Mùi (30 tuổi), công nhân tại một khu công nghiệp ở Bắc Ninh, vội vàng gửi con nhỏ rồi tất tả đi làm. Từ khi sinh con, thu nhập của chị giảm gần một nửa vì không thể tăng ca như trước, trong khi chi phí nuôi con ngày một tăng. "Nhiều lúc muốn làm thêm mà không có người trông con", chị chia sẻ.
Không có nhà trẻ công lập gần khu ở trọ, lựa chọn duy nhất của chị là gửi con ở các nhóm trẻ tư nhân gần đó với chi phí cao hơn, chiếm phần lớn thu nhập của chị. Với chị Mùi, việc quyết định đi làm thêm để tăng thu nhập hay ở nhà trông con không đơn thuần là lựa chọn cá nhân, mà là bài toán kinh tế không dễ có lời giải.
Tương tự, với chị Bùi Thị Thu Nga (45 tuổi) ở phường Vũng Tàu, TPHCM, có mẹ chồng mắc bệnh sa sút trí tuệ - bệnh Alzheimer. Ban đầu, chị thuê người giúp việc để ngày đi làm, tối về chăm sóc mẹ chồng nhưng khi bệnh tiến triển đến giai đoạn nặng, bà mất nhận thức, không phân biệt ngày hay đêm, cùng với mọi sinh hoạt phụ thuộc hoàn toàn vào người thân khiến cuộc sống gia đình bị đảo lộn. Khi người giúp việc không chịu nổi áp lực, bỏ về quê, chị buộc phải xin nghỉ việc. Vài năm sau mẹ chồng mất, chị quay trở lại công việc thì không thể theo kịp đồng nghiệp vì tụt hậu trong thời công nghệ số.
Dù không thuộc nhóm yếu thế nhưng chị Mùi hay chị Nga vẫn rơi vào thế yếu khi phải tự điều chỉnh công việc, chấp nhận mức thu nhập thấp hơn hoặc rời khỏi thị trường lao động, khiến họ phải chịu thiệt thòi hơn so với nam giới trong cùng hoàn cảnh. Đây không chỉ là vấn đề gia đình, mà là hệ quả việc phân bổ nguồn lực công chưa hợp lý trong các lĩnh vực thiết yếu, điển hình là giáo dục, y tế, an sinh xã hội gắn với các dịch vụ chăm sóc gia đình.
Tương tự, ở lĩnh vực y tế, trong khi chi cho y tế liên tục tăng và chiếm tỷ trọng đáng kể trong ngân sách nhà nước thì nguồn lực dành riêng cho dịch vụ chăm sóc dài hạn đối với người cao tuổi ở nước ta lại chưa được chú trọng. Trên thế giới, đặc biệt tại các nước phát triển, chi cho chăm sóc dài hạn bao gồm chăm sóc y tế và xã hội cho người cao tuổi hiện chiếm trung bình khoảng 1,5-1,8% GDP, thậm chí lên tới 3-4% GDP ở một số quốc gia.
Điều này phản ánh một thực tế: Khi thiếu một hệ thống tài chính công đủ mạnh cho lĩnh vực chăm sóc gia đình, nhất là đối với người cao tuổi và trẻ em, lao động chăm sóc chủ yếu chuyển sang gia đình - mà phần lớn là phụ nữ đang phải "oằn lưng" gánh vác không được trả lương khiến khoảng cách giới khó thu hẹp.
Trong quá trình hoạch định, xây dựng chính sách, nhiều người vẫn còn có quan niệm cho rằng nếu một chương trình được thiết kế chung cho mọi đối tượng thì sẽ đảm bảo công bằng. Tuy nhiên, trên thực tế "ngân sách trung tính" (áp dụng giống nhau cho tất cả mọi người) chưa hẳn đã mang lại kết quả bình đẳng.
Có thể thấy, nhiều chương trình hỗ trợ sinh kế được thiết kế chung cho các hộ nghèo với mục tiêu tạo cho họ cơ hội phát triển kinh tế. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai, phụ nữ làm chủ hộ khó tiếp cận nguồn hỗ trợ hơn, nhất là phụ nữ ở nông thôn hoặc ở miền núi thường bị hạn chế về quyền sở hữu tài sản hoặc khả năng tiếp cận tín dụng. Hay như chương trình đào tạo nghề, do không có số liệu thống kê tách biệt giới nên rất khó đánh giá tỷ lệ tham gia các lớp đào tạo, ngành nghề cũng như cơ hội sau đào tạo của cả nam và nữ, khiến các cơ quan quản lý khó xác định về đảm bảo bình đẳng của chính sách.
Tại Việt Nam, ngân sách có trách nhiệm giới đã được đề cập trong nhiều văn bản chính sách, song việc triển khai trên thực tế vẫn ở giai đoạn ban đầu. Cách tiếp cận chủ yếu hiện nay là lồng ghép yếu tố giới vào các chương trình và kế hoạch phát triển.
Phụ nữ Việt Nam tích cực tham gia vào hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội, phải chịu gánh nặng kép về công việc và gia đình nhưng thường thua thiệt so với nam giới trong cùng hoàn cảnh
Xác định rõ vai trò quan trọng của ngân sách có trách nhiệm giới, trong 30 năm thực hiện Cương lĩnh Hành động Bắc Kinh, đặc biệt là trong những năm gần đây, Chính phủ Việt Nam đã thể hiện quyết tâm mạnh mẽ trong việc thúc đẩy quyền bình đẳng của phụ nữ và nam giới thông qua việc hoàn thiện hệ thống pháp luật. Quan điểm "không để ai bị bỏ lại phía sau" được lồng ghép xuyên suốt trong chiến lược, chính sách, pháp luật và chương trình mục tiêu quốc gia.
Đặc biệt, từ năm 2006, Luật Bình đẳng giới ra đời lần đầu tiên đã đặt nền tảng cho việc xây dựng chính sách có lồng ghép giới. Đến năm 2015, Luật ngân sách Nhà nước chính thức quy định nguyên tắc: "Bảo đảm bình đẳng giới trong quản lý ngân sách nhà nước". Luật Ngân sách Nhà nước năm 2025 tiếp tục đề cập: "Bảo đảm ưu tiên bố trí ngân sách để thực hiện mục tiêu bình đẳng giới".
Trong bức tranh chi ngân sách từ năm 2020 trở lại đây, chi thường xuyên vốn được coi là "trái tim" của ngân sách giới thường chiếm khoảng 65% tổng chi ngân sách; còn chi đầu tư phát triển cho hạ tầng, kinh tế hầu như thiếu vắng "bóng dáng" giới chiếm khoảng 30%.
Có thể lấy năm 2025 làm ví dụ so sánh. Theo số liệu của Cục Thống kê (Bộ Tài chính)1, trong cơ cấu chi ngân sách Nhà nước năm 2025, tổng chi Ngân sách năm ước đạt khoảng 2,4 triệu tỷ đồng, trong đó chi thường xuyên ước đạt khoảng 1,55 triệu tỷ đồng (chiếm khoảng 65% tổng chi ngân sách), chi đầu tư phát triển ước đạt khoảng 732 nghìn tỷ đồng (chiếm khoảng 30% tổng chi ngân sách). Trong các lĩnh vực có nhạy cảm giới, chi giáo dục cao nhất, chiếm khoảng 20% tổng chi ngân sách, tiếp theo là an sinh xã hội 10-12%, y tế 7-9%...
Bên cạnh đó, trong giai đoạn 2021-2025, cả nước có 3 chương trình mục tiêu quốc gia. Theo các nghị quyết của Quốc hội2, tổng nguồn lực dự kiến khoảng 409.000 tỷ đồng (chiếm khoảng 3-3,5% tổng chi ngân sách), Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030 có nguồn lực chiếm khoảng 1/3 với trên 137.000 tỷ đồng, trong đó Dự án 8 "Thực hiện bình đẳng giới và giải quyết các vấn đề cấp thiết đối với phụ nữ và trẻ em" giai đoạn I (2021-2025) do TƯ Hội LHPN Việt Nam chủ trì có nguồn ngân sách lớn nhất với 1.994,8 tỷ đồng, trong đó ngân sách trung ương chiếm 1.962,4 tỷ đồng, ngân sách địa phương là 32,4 tỷ đồng3.
Infographic: Tác động của ngân sách có trách nhiệm giới đối với Dự án 8 "Thực hiện bình đẳng giới và giải quyết các vấn đề cấp thiết đối với phụ nữ và trẻ em" giai đoạn I (2021-2025) do TƯ Hội LHPN Việt Nam chủ trì. Thiết kế: Lê Tường
Những kết quả bước đầu của Việt Nam trong phân bổ ngân sách có trách nhiệm giới là rất đáng khích lệ, góp phần quan trọng thực hiện hiệu quả các mục tiêu của Chiến lược Quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021-2030 và thực thi các cam kết quốc tế của Việt Nam về bình đẳng giới. Tuy nhiên, nếu nhìn vào con số chi ngân sách giới trực tiếp năm 2025 do các nghiên cứu quốc tế thông qua việc lồng ghép giới ước tính khoảng 2.500-3.500 tỷ đồng cho thấy con số này quá khiêm tốn, mới chỉ chiếm 0,1-0,15% tổng chi ngân sách.
Điều này cũng cho thấy một nghịch lý: Trong khi bình đẳng giới được xác định là mục tiêu xuyên suốt của phát triển bền vững, thì nguồn lực tài chính dành cho lĩnh vực này lại quá nhỏ giọt. Đồng thời phản ánh cách tiếp cận còn thiên về các chương trình riêng lẻ, chưa thực sự lồng ghép giới vào toàn bộ chu trình ngân sách, từ đó hạn chế tác động mang tính cấu trúc đối với thu hẹp khoảng cách giới.
Các lĩnh vực giáo dục, y tế và an sinh xã hội - vốn có tác động trực tiếp đến bình đẳng giới - hiện chiếm tới gần 40% tổng chi ngân sách nhà nước, tương đương khoảng 1 triệu tỷ đồng mỗi năm. Tuy nhiên, phần lớn nguồn lực này chưa được phân tích và theo dõi dưới góc độ giới. Điều đó cho thấy, vấn đề không nằm ở việc ngân sách không chỉ chi ít cho bình đẳng giới, mà còn ở chỗ chưa có công cụ để nhận diện và định hướng các khoản chi này nhằm thu hẹp khoảng cách giới một cách thực chất.
Trong lĩnh vực đầu tư công, các dự án vẫn chủ yếu được thẩm định dựa trên hiệu quả kinh tế - kỹ thuật, chưa chú trọng đến tác động xã hội theo góc độ giới. Điều này khiến nhiều cơ hội thúc đẩy bình đẳng giới thông qua đầu tư công chưa được tận dụng.
Ở cấp độ chính sách vĩ mô, các nghị quyết về phát triển kinh tế - xã hội và kế hoạch tài chính tuy đã đề cập đến an sinh xã hội và nhóm yếu thế, nhưng chưa xác định bình đẳng giới là tiêu chí độc lập. Hệ thống chỉ tiêu còn thiếu các chỉ tiêu về giới, trong khi danh mục đầu tư vẫn thiên về hạ tầng kinh tế, chưa ưu tiên rõ các lĩnh vực tác động trực tiếp đến phụ nữ.
Các chương trình mục tiêu quốc gia có lồng ghép giới và có hợp phần ngân sách nhưng còn rời rạc, thiếu gắn kết giữa chỉ tiêu và nguồn lực, cùng với tiến độ giải ngân chậm làm giảm hiệu quả thực thi. Dự án 8 với nguồn ngân sách lớn nhất dành cho phụ nữ trong các Chương trình mục tiêu quốc gia nhưng cũng chiếm tỷ lệ còn quá nhỏ. Hơn nữa, chính sách cần thời gian để tạo thay đổi, trong khi đó ngân sách lại vận hành theo năm khiến tính bền vững khó khả thi.
Khoảng cách giữa chính sách và thực thi thể hiện rõ ở cấp cơ sở. Các nghiên cứu của UN Women chỉ ra rằng, tại Việt Nam và nhiều nước đang phát triển, các chương trình hỗ trợ phụ nữ thường tập trung vào đào tạo, nâng cao nhận thức, trong khi phần đầu tư tài chính trực tiếp lại hạn chế…
Việt Nam đang bước vào giai đoạn già hóa dân số, mức sinh giảm nhanh đặt ra thách thức kép: Vừa thiếu hụt lao động trong tương lai, vừa gia tăng áp lực lên hệ thống an sinh xã hội. Cùng với việc thay đổi mô hình tăng trưởng nhằm thực hiện mục tiêu: Tăng trưởng GDP trên 10%/năm, GDP bình quân 8.500 USD vào 2030, kinh tế số chiếm 30% GDP, HDI đạt 0,8, tuổi thọ 75,5 do Nghị quyết Đại hội Đảng XIV đề ra, ngân sách có trách nhiệm giới trở thành chiến lược đầu tư cho tương lai và là yêu cầu tất yếu của quản trị phát triển bền vững.
Điểm mấu chốt là lồng ghép giới trong ngân sách không phải là "phần việc bổ sung", mà là tiêu chí của quản trị hiện đại và làm thế nào thiết kế chính sách giới đúng, trúng và đo lường được kết quả.
Thực hiện: HẢI YẾN - ĐỖ HOA
Thiết kế: TRẦN THẮNG
-----------
Kỳ 2: Nhận diện khoảng trống giới trong chu trình ngân sách
Luật Thủ đô (sửa đổi): Khi "quyền trên giấy" phải đo bằng chất lượng sống của người dân
Thời cuộc 16:57 16/04/2026Dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi) với các cơ chế đặc thù cho Hà Nội chỉ thực sự có ý nghĩa khi được chuyển hóa thành những thay đổi hữu hình trong đời sống người dân hằng ngày. Nếu không tạo ra sự cải thiện thực chất về chất lượng sống, mọi quy định sẽ chỉ dừng lại ở "quyền trên giấy". Và vì thế, thước đo cuối cùng của đạo luật không nằm ở mức độ trao quyền, mà ở chính cuộc sống của người dân có tốt hơn hay không.
Hạnh phúc Việt Nam: Từ chỉ số đến đời sống - Bài cuối: Khi chính sách "chạm" tới từng gia đình
Xã hội 09:53 15/04/2026Việt Nam thăng hạng hạnh phúc là tín hiệu tích cực nhưng giữ được hạnh phúc mới là bài toán dài hạn. Khi áp lực đời sống ngày càng đa chiều, từ kinh tế, quan hệ đến sức khỏe tinh thần, hạnh phúc không thể chỉ là cảm nhận. Từ việc xây dựng Bộ chỉ số gia đình hạnh phúc đến triển khai các mô hình hỗ trợ tại cộng đồng, một cách tiếp cận mới đang dần hình thành, trong đó đo lường giúp nhận diện vấn đề, can thiệp đúng địa chỉ và duy trì đồng hành từ cơ sở để hạnh phúc trở thành năng lực bền vững.
Vợ chồng quân nhân: Lan tỏa những giá trị tích cực để xây dựng môi trường mạng xã hội lành mạnh
Gia đình 09:34 15/04/2026Sinh ra trong gia đình có truyền thống nhiều thế hệ gắn bó với quân đội, vợ chồng Thượng tá Đỗ Anh Tuấn - Phó Chủ nhiệm Chính trị, Trung đoàn không quân 917 (Sư đoàn 370, Quân chủng Phòng không - Không quân) và Thượng tá Phạm Thị Hoa - Giảng viên Học viện Phòng không - Không quân, đến với nhau bằng tình yêu và sự gặp gỡ của lý tưởng, trách nhiệm.
Hạnh phúc Việt Nam: Từ chỉ số đến đời sống - Bài 2: Mạch ngầm hạnh phúc của người Việt
Xã hội 21:58 10/04/2026Mạch ngầm hạnh phúc thực sự của người Việt được dệt nên từ sợi dây gắn kết gia đình bền chặt và niềm tin cộng đồng thuần hậu. Từ nếp nhà nhiều thế hệ luôn ấm áp tình thân đến những xóm làng sẵn lòng nhường cơm sẻ áo lúc hoạn nạn, thiên tai, một triết lý nhân sinh giản dị mà mạnh mẽ luôn hiện hữu: Việt Nam có thể chưa giàu, nhưng chắc chắn là nơi "không ai bị bỏ lại phía sau".
Đắk Lắk: Gỡ "nút thắt" du lịch để biến di sản thành những câu chuyện giàu cảm xúc
Du lịch 17:20 09/04/2026Hành trình khảo sát "Đắk Lắk - Về miền di sản" không chỉ là một chuyến đi thực địa đơn thuần, mà đã trở thành cuộc "hội chẩn" quy mô nhằm tìm kiếm những điểm thắt, gỡ bỏ rào cản và đánh thức tiềm năng du lịch Đắk Lắk thông qua lăng kính của sự thật và cảm xúc. Khởi nguồn từ khát vọng định vị lại giá trị của vùng đất đại ngàn, hơn 70 đại biểu từ các cơ quan báo chí và đơn vị lữ hành đã trải nghiệm buôn làng, di tích để "bắt mạch" thực trạng, từ đó hiến kế cho một chiến lược liên kết vùng bền vững.
Hạnh phúc Việt Nam: Từ chỉ số đến đời sống - Bài 1: Lấy hạnh phúc của Nhân dân làm mục tiêu và động lực phát triển
Xã hội 15:55 09/04/2026Việc Việt Nam không ngừng thăng hạng trong Báo cáo “Hạnh phúc Thế giới” liên tiếp những năm gần đây cho thấy sự cải thiện đáng kể về chất lượng cuộc sống, an sinh xã hội và tinh thần của người dân. Đồng thời, khẳng định chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước ta khi lấy con người làm trung tâm, lấy hạnh phúc của Nhân dân làm mục tiêu phát triển bền vững.
"Hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp" - Bài cuối: Đề án 2415 - Kỳ vọng bứt phá
Giới & Phát triển 14:20 31/03/2026Khởi nghiệp với phụ nữ là hành trình bền bỉ vượt qua định kiến để khẳng định vai trò trong phát triển kinh tế. Đề án 2415 được kỳ vọng sẽ tiếp thêm động lực, nâng cao năng lực và thúc đẩy kết nối bền vững cho phụ nữ khởi nghiệp.
Đề án "Hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp" - Bài 2: Phụ nữ vượt định kiến, xây tương lai
Giới & Phát triển 18:02 30/03/2026Ở vùng cao Phú Thọ và Sơn La, nhiều phụ nữ dân tộc thiểu số đang vươn lên làm chủ kinh tế, nâng tầm nông sản bản địa. Từ nương rẫy, họ trở thành những nữ lãnh đạo bản lĩnh, góp phần mở ra hướng phát triển bền vững cho địa phương.









