Xem thêm thông tin của Báo PNVN trên
Phụ nữ Việt Nam
MỚI NHẤT ĐỘC QUYỀN MULTIMEDIA CHUYÊN ĐỀ
20/04/2026 - 21:52 (GMT+7)
Ngân sách có trách nhiệm giới: Từ cam kết chính sách đến bình đẳng thực chất

Sau hơn 30 năm thực hiện Cương lĩnh Hành động Bắc Kinh và Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021-2030, Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững - không để ai bị bỏ lại phía sau, Việt Nam có bước tiến quan trọng về bình đẳng giới. Tuy nhiên, ngân sách có trách nhiệm giới nhằm tiến tới bình đẳng thực chất mới đạt được kết quả bước đầu. Còn rất nhiều vấn đề đặt ra cần giải quyết.
Ngân sách có trách nhiệm giới: Từ cam kết chính sách đến bình đẳng thực chất- Ảnh 1.

Hội thảo Khoa học Quốc gia: “Chính sách tài khóa có trách nhiệm Giới gắn với mục tiêu phát triển bao trùm và ứng phó thách thức nhân khẩu học trong kỷ nguyên phát triển mới ở Việt Nam” do Đại học Kinh tế Quốc dân phối hợp với Cơ quan Liên hợp quốc về Bình đẳng giới và Trao quyền cho Phụ nữ (UN- Women) tại Việt Nam và Đại sứ quán Australia tổ chức ngày 21/01/2026 tại Hà Nội

Ngân sách có trách nhiệm giới: Từ cam kết chính sách đến bình đẳng thực chất- Ảnh 2.

6h sáng, chị Trịnh Thị Mùi (30 tuổi), công nhân tại một khu công nghiệp ở Bắc Ninh, vội vàng gửi con nhỏ rồi tất tả đi làm. Từ khi sinh con, thu nhập của chị giảm gần một nửa vì không thể tăng ca như trước, trong khi chi phí nuôi con ngày một tăng. "Nhiều lúc muốn làm thêm mà không có người trông con", chị chia sẻ.

Không có nhà trẻ công lập gần khu ở trọ, lựa chọn duy nhất của chị là gửi con ở các nhóm trẻ tư nhân gần đó với chi phí cao hơn, chiếm phần lớn thu nhập của chị. Với chị Mùi, việc quyết định đi làm thêm để tăng thu nhập hay ở nhà trông con không đơn thuần là lựa chọn cá nhân, mà là bài toán kinh tế không dễ có lời giải. 

Ngân sách có trách nhiệm giới: Từ cam kết chính sách đến bình đẳng thực chất- Ảnh 3.

Tương tự, với chị Bùi Thị Thu Nga (45 tuổi) ở phường Vũng Tàu, TPHCM, có mẹ chồng mắc bệnh sa sút trí tuệ - bệnh Alzheimer. Ban đầu, chị thuê người giúp việc để ngày đi làm, tối về chăm sóc mẹ chồng nhưng khi bệnh tiến triển đến giai đoạn nặng, bà mất nhận thức, không phân biệt ngày hay đêm, cùng với mọi sinh hoạt phụ thuộc hoàn toàn vào người thân khiến cuộc sống gia đình bị đảo lộn. Khi người giúp việc không chịu nổi áp lực, bỏ về quê, chị buộc phải xin nghỉ việc. Vài năm sau mẹ chồng mất, chị quay trở lại công việc thì không thể theo kịp đồng nghiệp vì tụt hậu trong thời công nghệ số.

Dù không thuộc nhóm yếu thế nhưng chị Mùi hay chị Nga vẫn rơi vào thế yếu khi phải tự điều chỉnh công việc, chấp nhận mức thu nhập thấp hơn hoặc rời khỏi thị trường lao động, khiến họ phải chịu thiệt thòi hơn so với nam giới trong cùng hoàn cảnh. Đây không chỉ là vấn đề gia đình, mà là hệ quả việc phân bổ nguồn lực công chưa hợp lý trong các lĩnh vực thiết yếu, điển hình là giáo dục, y tế, an sinh xã hội gắn với các dịch vụ chăm sóc gia đình.

Tương tự, ở lĩnh vực y tế, trong khi chi cho y tế liên tục tăng và chiếm tỷ trọng đáng kể trong ngân sách nhà nước thì nguồn lực dành riêng cho dịch vụ chăm sóc dài hạn đối với người cao tuổi ở nước ta lại chưa được chú trọng. Trên thế giới, đặc biệt tại các nước phát triển, chi cho chăm sóc dài hạn bao gồm chăm sóc y tế và xã hội cho người cao tuổi hiện chiếm trung bình khoảng 1,5-1,8% GDP, thậm chí lên tới 3-4% GDP ở một số quốc gia.

Điều này phản ánh một thực tế: Khi thiếu một hệ thống tài chính công đủ mạnh cho lĩnh vực chăm sóc gia đình, nhất là đối với người cao tuổi và trẻ em, lao động chăm sóc chủ yếu chuyển sang gia đình - mà phần lớn là phụ nữ đang phải "oằn lưng" gánh vác không được trả lương khiến khoảng cách giới khó thu hẹp.

Ngân sách có trách nhiệm giới: Từ cam kết chính sách đến bình đẳng thực chất- Ảnh 4.

Trong quá trình hoạch định, xây dựng chính sách, nhiều người vẫn còn có quan niệm cho rằng nếu một chương trình được thiết kế chung cho mọi đối tượng thì sẽ đảm bảo công bằng. Tuy nhiên, trên thực tế "ngân sách trung tính" (áp dụng giống nhau cho tất cả mọi người) chưa hẳn đã mang lại kết quả bình đẳng.

Có thể thấy, nhiều chương trình hỗ trợ sinh kế được thiết kế chung cho các hộ nghèo với mục tiêu tạo cho họ cơ hội phát triển kinh tế. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai, phụ nữ làm chủ hộ khó tiếp cận nguồn hỗ trợ hơn, nhất là phụ nữ ở nông thôn hoặc ở miền núi thường bị hạn chế về quyền sở hữu tài sản hoặc khả năng tiếp cận tín dụng. Hay như chương trình đào tạo nghề, do không có số liệu thống kê tách biệt giới nên rất khó đánh giá tỷ lệ tham gia các lớp đào tạo, ngành nghề cũng như cơ hội sau đào tạo của cả nam và nữ, khiến các cơ quan quản lý khó xác định về đảm bảo bình đẳng của chính sách. 

Ngân sách có trách nhiệm giới: Từ cam kết chính sách đến bình đẳng thực chất- Ảnh 5.

Ngân sách có trách nhiệm giới: Từ cam kết chính sách đến bình đẳng thực chất- Ảnh 6.

Tại Việt Nam, ngân sách có trách nhiệm giới đã được đề cập trong nhiều văn bản chính sách, song việc triển khai trên thực tế vẫn ở giai đoạn ban đầu. Cách tiếp cận chủ yếu hiện nay là lồng ghép yếu tố giới vào các chương trình và kế hoạch phát triển.

Ngân sách có trách nhiệm giới: Từ cam kết chính sách đến bình đẳng thực chất- Ảnh 7.

Phụ nữ Việt Nam tích cực tham gia vào hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội, phải chịu gánh nặng kép về công việc và gia đình nhưng thường thua thiệt so với nam giới trong cùng hoàn cảnh

Ngân sách có trách nhiệm giới: Từ cam kết chính sách đến bình đẳng thực chất- Ảnh 8.


Xác định rõ vai trò quan trọng của ngân sách có trách nhiệm giới, trong 30 năm thực hiện Cương lĩnh Hành động Bắc Kinh, đặc biệt là trong những năm gần đây, Chính phủ Việt Nam đã thể hiện quyết tâm mạnh mẽ trong việc thúc đẩy quyền bình đẳng của phụ nữ và nam giới thông qua việc hoàn thiện hệ thống pháp luật. Quan điểm "không để ai bị bỏ lại phía sau" được lồng ghép xuyên suốt trong chiến lược, chính sách, pháp luật và chương trình mục tiêu quốc gia. 

Đặc biệt, từ năm 2006, Luật Bình đẳng giới ra đời lần đầu tiên đã đặt nền tảng cho việc xây dựng chính sách có lồng ghép giới. Đến năm 2015, Luật ngân sách Nhà nước chính thức quy định nguyên tắc: "Bảo đảm bình đẳng giới trong quản lý ngân sách nhà nước". Luật Ngân sách Nhà nước năm 2025 tiếp tục đề cập: "Bảo đảm ưu tiên bố trí ngân sách để thực hiện mục tiêu bình đẳng giới".

Trong bức tranh chi ngân sách từ năm 2020 trở lại đây, chi thường xuyên vốn được coi là "trái tim" của ngân sách giới thường chiếm khoảng 65% tổng chi ngân sách; còn chi đầu tư phát triển cho hạ tầng, kinh tế hầu như thiếu vắng "bóng dáng" giới chiếm khoảng 30%.

Có thể lấy năm 2025 làm ví dụ so sánh. Theo số liệu của Cục Thống kê (Bộ Tài chính)1, trong cơ cấu chi ngân sách Nhà nước năm 2025, tổng chi Ngân sách năm ước đạt khoảng 2,4 triệu tỷ đồng, trong đó chi thường xuyên ước đạt khoảng 1,55 triệu tỷ đồng (chiếm khoảng 65% tổng chi ngân sách), chi đầu tư phát triển ước đạt khoảng 732 nghìn tỷ đồng (chiếm khoảng 30% tổng chi ngân sách). Trong các lĩnh vực có nhạy cảm giới, chi giáo dục cao nhất, chiếm khoảng 20% tổng chi ngân sách, tiếp theo là an sinh xã hội 10-12%, y tế 7-9%...

Bên cạnh đó, trong giai đoạn 2021-2025, cả nước có 3 chương trình mục tiêu quốc gia. Theo các nghị quyết của Quốc hội2, tổng nguồn lực dự kiến khoảng 409.000 tỷ đồng (chiếm khoảng 3-3,5% tổng chi ngân sách), Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030 có nguồn lực chiếm khoảng 1/3 với trên 137.000 tỷ đồng, trong đó Dự án 8 "Thực hiện bình đẳng giới và giải quyết các vấn đề cấp thiết đối với phụ nữ và trẻ em" giai đoạn I (2021-2025) do TƯ Hội LHPN Việt Nam chủ trì có nguồn ngân sách lớn nhất với 1.994,8 tỷ đồng, trong đó ngân sách trung ương chiếm 1.962,4 tỷ đồng, ngân sách địa phương là 32,4 tỷ đồng3.

Ngân sách có trách nhiệm giới: Từ cam kết chính sách đến bình đẳng thực chất- Ảnh 9.

Infographic: Tác động của ngân sách có trách nhiệm giới đối với Dự án 8 "Thực hiện bình đẳng giới và giải quyết các vấn đề cấp thiết đối với phụ nữ và trẻ em" giai đoạn I (2021-2025) do TƯ Hội LHPN Việt Nam chủ trì. Thiết kế: Lê Tường

Những kết quả bước đầu của Việt Nam trong phân bổ ngân sách có trách nhiệm giới là rất đáng khích lệ, góp phần quan trọng thực hiện hiệu quả các mục tiêu của Chiến lược Quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021-2030 và thực thi các cam kết quốc tế của Việt Nam về bình đẳng giới. Tuy nhiên, nếu nhìn vào con số chi ngân sách giới trực tiếp năm 2025 do các nghiên cứu quốc tế thông qua việc lồng ghép giới ước tính khoảng 2.500-3.500 tỷ đồng cho thấy con số này quá khiêm tốn, mới chỉ chiếm 0,1-0,15% tổng chi ngân sách. 

Điều này cũng cho thấy một nghịch lý: Trong khi bình đẳng giới được xác định là mục tiêu xuyên suốt của phát triển bền vững, thì nguồn lực tài chính dành cho lĩnh vực này lại quá nhỏ giọt. Đồng thời phản ánh cách tiếp cận còn thiên về các chương trình riêng lẻ, chưa thực sự lồng ghép giới vào toàn bộ chu trình ngân sách, từ đó hạn chế tác động mang tính cấu trúc đối với thu hẹp khoảng cách giới.

Các lĩnh vực giáo dục, y tế và an sinh xã hội - vốn có tác động trực tiếp đến bình đẳng giới - hiện chiếm tới gần 40% tổng chi ngân sách nhà nước, tương đương khoảng 1 triệu tỷ đồng mỗi năm. Tuy nhiên, phần lớn nguồn lực này chưa được phân tích và theo dõi dưới góc độ giới. Điều đó cho thấy, vấn đề không nằm ở việc ngân sách không chỉ chi ít cho bình đẳng giới, mà còn ở chỗ chưa có công cụ để nhận diện và định hướng các khoản chi này nhằm thu hẹp khoảng cách giới một cách thực chất.

Trong lĩnh vực đầu tư công, các dự án vẫn chủ yếu được thẩm định dựa trên hiệu quả kinh tế - kỹ thuật, chưa chú trọng đến tác động xã hội theo góc độ giới. Điều này khiến nhiều cơ hội thúc đẩy bình đẳng giới thông qua đầu tư công chưa được tận dụng.

Ở cấp độ chính sách vĩ mô, các nghị quyết về phát triển kinh tế - xã hội và kế hoạch tài chính tuy đã đề cập đến an sinh xã hội và nhóm yếu thế, nhưng chưa xác định bình đẳng giới là tiêu chí độc lập. Hệ thống chỉ tiêu còn thiếu các chỉ tiêu về giới, trong khi danh mục đầu tư vẫn thiên về hạ tầng kinh tế, chưa ưu tiên rõ các lĩnh vực tác động trực tiếp đến phụ nữ.

Các chương trình mục tiêu quốc gia có lồng ghép giới và có hợp phần ngân sách nhưng còn rời rạc, thiếu gắn kết giữa chỉ tiêu và nguồn lực, cùng với tiến độ giải ngân chậm làm giảm hiệu quả thực thi. Dự án 8 với nguồn ngân sách lớn nhất dành cho phụ nữ trong các Chương trình mục tiêu quốc gia nhưng cũng chiếm tỷ lệ còn quá nhỏ. Hơn nữa, chính sách cần thời gian để tạo thay đổi, trong khi đó ngân sách lại vận hành theo năm khiến tính bền vững khó khả thi.

Khoảng cách giữa chính sách và thực thi thể hiện rõ ở cấp cơ sở. Các nghiên cứu của UN Women chỉ ra rằng, tại Việt Nam và nhiều nước đang phát triển, các chương trình hỗ trợ phụ nữ thường tập trung vào đào tạo, nâng cao nhận thức, trong khi phần đầu tư tài chính trực tiếp lại hạn chế…

Việt Nam đang bước vào giai đoạn già hóa dân số, mức sinh giảm nhanh đặt ra thách thức kép: Vừa thiếu hụt lao động trong tương lai, vừa gia tăng áp lực lên hệ thống an sinh xã hội. Cùng với việc thay đổi mô hình tăng trưởng nhằm thực hiện mục tiêu: Tăng trưởng GDP trên 10%/năm, GDP bình quân 8.500 USD vào 2030, kinh tế số chiếm 30% GDP, HDI đạt 0,8, tuổi thọ 75,5 do Nghị quyết Đại hội Đảng XIV đề ra, ngân sách có trách nhiệm giới trở thành chiến lược đầu tư cho tương lai và là yêu cầu tất yếu của quản trị phát triển bền vững. 

Điểm mấu chốt là lồng ghép giới trong ngân sách không phải là "phần việc bổ sung", mà là tiêu chí của quản trị hiện đại và làm thế nào thiết kế chính sách giới đúng, trúng và đo lường được kết quả.

Ngân sách có trách nhiệm giới: Từ cam kết chính sách đến bình đẳng thực chất- Ảnh 10.

Lồng ghép giới trong ngân sách không phải là "phần việc bổ sung", mà là tiêu chí của quản trị hiện đại. Vấn đề nằm ở cách thiết kế và đo lường.

Thực hiện: HẢI YẾN - ĐỖ HOA

Thiết kế: TRẦN THẮNG

-----------

1.https://thuvienphapluat.vn/chinh-sach-phap-luat-moi/vn/ho-tro-phap-luat/tai-chinh/102575/bao-cao-thu-chi-ngan-sach-nha-nuoc-nam-2025

2.https://moj.gov.vn/tttp/tintuc/Lists/CongUocQuocTe/Attachments/13/10.%20VIE%20-%20PL%204%20-%20CT%20muc%20tieu%20quoc%20gia.pdf

3. Tổng kết Dự án “Thực hiện bình đẳng giới và giải quyết những vấn đề cấp thiết đối với phụ nữ và trẻ em”

Kỳ 2: Nhận diện khoảng trống giới trong chu trình ngân sách

Cùng chuẩn bị hành trang sức khỏe trước ngày chung đôi

Cùng chuẩn bị hành trang sức khỏe trước ngày chung đôi

Sức khỏe 20:47 25/10/2026

Trước khi bước vào cuộc sống hôn nhân, bên cạnh những dự định về một mái ấm hạnh phúc, việc chủ động chăm sóc sức khỏe cũng là sự chuẩn bị cần thiết của mỗi cặp đôi. Tại TPHCM, chương trình khám sức khỏe tiền hôn nhân miễn phí dành cho 200 cặp đôi đang mang đến cơ hội được thăm khám, tư vấn, đồng thời góp phần nâng cao nhận thức của người trẻ về chăm sóc sức khỏe sinh sản, trách nhiệm với bản thân, bạn đời và thế hệ tương lai.

Hiến mô, tạng: Từ nguyện vọng nhân văn đến cơ hội hồi sinh sự sống

Hiến mô, tạng: Từ nguyện vọng nhân văn đến cơ hội hồi sinh sự sống

Sức khỏe 18:41 20/10/2026

Khi một người quyết định hiến mô, tạng, họ đang trao đi một phần cơ thể mình để mở thêm một cơ hội sống cho người khác. Quyết định này cần được hiểu đúng và chuẩn bị đầy đủ. Từ việc đăng ký hiến khi còn sống đến quá trình tiếp nhận, điều phối và ghép tạng, mỗi bước đều cần tuân thủ quy định y tế, pháp luật - nhằm bảo đảm nguyện vọng của người hiến được tôn trọng và món quà sự sống được trao đúng lúc, đúng người.

"Lắng nghe để biết phụ nữ đang gặp khó ở đâu và tổ chức Hội cần làm gì"

"Lắng nghe để biết phụ nữ đang gặp khó ở đâu và tổ chức Hội cần làm gì"

Giới & Phát triển 09:46 12/10/2026

Theo Chủ tịch Hội LHPN tỉnh Vĩnh Long Nguyễn Thị Kim Thoa, công tác Hội không nhất thiết phải bắt đầu từ điều gì thật lớn. Nhiều khi chỉ cần đến đúng lúc, nghe cho hết câu chuyện, hiểu đúng điều phụ nữ cần và giúp họ có thêm một cơ hội để tự đứng lên đã rất ý nghĩa.

Họa sĩ Văn Dương Thành: Vẽ hồn Việt, nối nhịp văn hóa ra thế giới

Họa sĩ Văn Dương Thành: Vẽ hồn Việt, nối nhịp văn hóa ra thế giới

Phụ nữ Việt Nam ở nước ngoài 11:53 08/10/2026

Chan chứa theo hai tiếng quê hương qua công ơn sinh thành, lớn lên theo những tháng ngày sơ tán thời chiến, ấn tượng với vốn cổ trong văn hóa dân gian nơi lớp học đình làng…; những mảnh ghép tưởng rời rạc ấy lại tạo nên một họa sĩ Văn Dương Thành rất Việt, vang danh tận trời Âu. Không chỉ khiến người xem rung động với những sáng tác giàu cảm xúc, bà còn ghi dấu ấn bền bỉ với vai trò một “đại sứ” nối nhịp văn hóa Việt Nam ra thế giới hơn nửa thế kỷ qua.

Không để sáng kiến nằm trên giấy

Không để sáng kiến nằm trên giấy

Giới & Phát triển 17:13 02/10/2026

Với đề xuất, tham mưu 9 đề tài, giải pháp, sáng kiến từ năm 2020 đến nay, trong đó có những cách làm được nhân rộng trên toàn tỉnh, điều chị Phạm Thị Hằng, Phó Chủ tịch thường trực Hội LHPN thành phố Bắc Ninh, quan tâm sau mỗi sáng kiến không chỉ là được công nhận, mà có thể áp dụng thế nào ở cơ sở.

"Muốn Hội mạnh, trước hết phải để phụ nữ thấy Hội ở ngay bên mình"

"Muốn Hội mạnh, trước hết phải để phụ nữ thấy Hội ở ngay bên mình"

Giới & Phát triển 14:39 02/10/2026

Từ những câu chuyện nhỏ của phụ nữ trong mỗi chuyến đi cơ sở, chị Ngô Thị Hồng Huệ, Phó Chủ tịch Hội LHPN tỉnh Hưng Yên tìm ra những việc Hội cần làm. Hơn một thập kỷ gắn bó với công tác Hội, chị bền bỉ dựng nền móng từ tổ chức, cán bộ đến những cách làm mới, để Hội gần phụ nữ hơn.

Đồng hành cùng phụ nữ vùng cao khởi nghiệp, làm chủ công nghệ, chuyển đổi xanh

Đồng hành cùng phụ nữ vùng cao khởi nghiệp, làm chủ công nghệ, chuyển đổi xanh

Kinh tế 22:46 01/10/2026

Chuyển đổi số đang mở thêm những cơ hội mới cho phụ nữ khởi nghiệp, nhưng khoảng cách về kỹ năng, ngôn ngữ, hạ tầng và khả năng tiếp cận công nghệ vẫn là thách thức, nhất là với phụ nữ dân tộc thiểu số. Bà Vũ Thị Quỳnh Anh, Phó Cố vấn trưởng Dự án GREAT, chia sẻ cách đưa công nghệ đến gần hơn với phụ nữ, từ kỹ năng số cơ bản đến quản trị kinh doanh, mở rộng thị trường và hướng tới những mô hình kinh doanh bền vững.

Nghệ nhân Quốc gia Chơn Diệu Ngọc: Nâng niu văn hóa trà Việt

Nghệ nhân Quốc gia Chơn Diệu Ngọc: Nâng niu văn hóa trà Việt

Văn hóa 16:07 01/10/2026

Khởi đầu từ những ấm trà tuổi thơ năm 6 tuổi, hành trình gần 40 năm gắn bó với trà của Nghệ nhân quốc gia Chơn Diệu Ngọc (Đậu Thị Thủy) - nhà sáng lập kiêm Chủ tịch Không gian Văn hóa Hội quán Trúc Lâm - không dừng lại ở việc thưởng thức hay chế biến. Với chị, đó là cuộc dấn thân bền bỉ nhằm tìm lại “căn cước” cho trà Việt và định hình một di sản sống của văn hóa dân tộc.