Xem thêm thông tin của Báo PNVN trên
Phụ nữ Việt Nam
MỚI NHẤT ĐỘC QUYỀN MULTIMEDIA CHUYÊN ĐỀ
21/04/2026 - 15:40 (GMT+7)
Nhận diện khoảng trống giới trong chu trình ngân sách

Nhận định đầy sức nặng về bản chất của ngân sách quốc gia này của TS. Vũ Thị Lưu Mai, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội, đã đặt ra một yêu cầu sống còn đối với quản trị tài chính hiện đại: Ngân sách chỉ thực sự nhân văn khi nó phản ánh đúng hơi thở và nhu cầu của mọi tầng lớp nhân dân, mà ở đó, lồng ghép giới chính là một trong những thước đo công bằng quan trọng nhất.

Theo TS. Vũ Thị Lưu Mai, bình đẳng giới chỉ thực sự trở thành hiện thực khi được "hiện thân" trong kết quả sử dụng các nguồn lực công. Tuy nhiên, thực tế thời gian qua tại Việt Nam đang cho thấy một sự "đứt gãy" giữa tuyên ngôn và hành động khi yếu tố giới vẫn đang bị xem là "biến số phụ" trong các tính toán tài chính thực tế.

Nhận diện khoảng trống giới trong chu trình ngân sách- Ảnh 1.

Nhận diện khoảng trống giới trong chu trình ngân sách- Ảnh 2.

Trong chu trình ngân sách, khâu lập dự toán và phân bổ nguồn lực đóng vai trò quyết định. Tuy nhiên, thực tế tại nhiều địa phương cho thấy một nghịch lý, hầu hết các chính sách đều ghi nhận ưu tiên bình đẳng giới, nhưng khi chuyển hóa thành con số tài chính thì lại thiếu những tiêu chí định lượng cụ thể. GS.TS Hoàng Văn Cường, nguyên Ủy viên Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội, nhận định: "Hầu hết trong các luật, các nghị quyết luôn có cụm từ "ưu tiên, chú ý" đến bình đẳng giới. Tuy nhiên, ưu tiên như thế nào, bằng các chỉ số ra làm sao thì hầu như chưa có. Chính vì thiếu các tiêu chí, căn cứ này nên khi thực hiện dự toán hay phân bổ ngân sách, chúng ta rất khó soi chiếu để biết kết quả tác động đến giới như thế nào".

Hệ quả là các dự án hạ tầng "cứng" như đường sá, cầu cống luôn chiếm ưu thế vì có định mức rõ ràng, dễ phê duyệt. Ngược lại, "hạ tầng mềm", vốn tác động trực tiếp đến phụ nữ như sinh kế, chăm sóc trẻ em hay y tế cơ sở lại vấp rào cản do thiếu đánh giá tác động giới từ khâu chủ trương đầu tư.

Theo nghiên cứu điển hình tại 3 tỉnh: Lào Cai, Yên Bái và Khánh Hòa (trước khi sáp nhập) của nhóm nghiên cứu từ UN Women và Đại học Kinh tế Quốc dân, sự lệch pha này lộ rõ ngay từ những mô hình hỗ trợ tại cơ sở. Cụ thể, tại Lào Cai, bài toán bền vững của Dự án 8 cho thấy các "Tổ truyền thông cộng đồng" dù hoạt động hiệu quả nhưng lại lúng túng khi nguồn hỗ trợ một lần kết thúc. Địa phương rất khó bố trí ngân sách thường xuyên vì những hoạt động thay đổi nhận thức vốn không tạo ra con số tăng trưởng cơ học ngay lập tức như xây một cây cầu, nên nghiễm nhiên bị xếp sau trong thứ tự ưu tiên. 

Tương tự tại Yên Bái, trong khi phụ nữ vùng cao Mù Cang Chải đang khát vốn hỗ trợ máy móc, công nghệ chế biến nhỏ để nâng cao giá trị nông sản, thì dòng vốn công lại chỉ chảy vào các gói thầu hạ tầng quy mô lớn hoặc tập huấn lý thuyết. Nhu cầu sát sườn về tư liệu sản xuất của phụ nữ vẫn nằm ngoài "tầm ngắm" chỉ vì nó không khớp với các khuôn mẫu dự toán hiện hành. Cái khó này cũng hiện hữu tại vùng biển Khánh Hòa, nơi phụ nữ tại nhiều địa phương đang chuyển đổi từ đánh bắt sang du lịch cộng đồng nhưng lại thiếu ngân sách cho đào tạo kỹ năng số, dịch vụ khách hàng hay vốn lưu động. Chừng nào những mục chi này còn bị coi là "chi phí phụ" và không được định danh rõ ràng trong dự toán, người phụ nữ vẫn sẽ yếu thế ngay trên hành trình tìm kiếm sinh kế mới.

Nghiên cứu của UN Women và Đại học Kinh tế Quốc dân cũng đã chỉ ra những hạn chế kỹ thuật tương tự đang kìm hãm dòng vốn này trên diện rộng. Cụ thể, tỷ lệ giải ngân thực tế cho các lĩnh vực có trách nhiệm giới thường được đánh giá cao như y tế, dân số và gia đình thì cũng chỉ đạt mức vô cùng khiêm tốn, cụ thể năm 2023 chỉ đạt 34,2% dự toán. Nguyên nhân bắt nguồn từ sự thiếu linh hoạt trong quy định pháp lý khi phân định chi đầu tư và chi thường xuyên, khiến các khoản chi phục vụ trực tiếp phụ nữ như sửa chữa trạm y tế, trường học bị bó vào quy trình chi thường xuyên phức tạp, gây chậm trễ kéo dài và làm hạn chế khả năng tiếp cận dịch vụ công của phụ nữ, nhất là ở vùng sâu vùng xa.

Bên cạnh những rào cản kỹ thuật mang tính quy trình, theo các chuyên gia, các hạn chế còn xuất phát từ những nguyên nhân sâu xa trong nhận thức và áp lực điều hành kinh tế vĩ mô. Trước hết, một bộ phận cán bộ quản lý hiện nay vẫn duy trì tư duy cũ khi xem bình đẳng giới thuần túy là vấn đề an sinh xã hội thay vì một yếu tố kinh tế then chốt cần lồng ghép, dẫn đến việc năng lực phân tích giới và kỹ năng lập ngân sách có trách nhiệm tại nhiều địa phương vẫn còn là một "khoảng trống" lớn.

Thêm vào đó, những tác động tiêu cực từ đại dịch Covid-19 và biến động khó lường của kinh tế thế giới giai đoạn cũng tạo ra những đứt gãy khách quan, làm gián đoạn tiến độ triển khai của nhiều dự án hạ tầng thiết yếu dành riêng cho phụ nữ. Trong bối cảnh áp lực cân đối ngân sách ngày càng đè nặng khi nợ công tăng cao, các cơ quan thực thi thường rơi vào xu hướng ưu tiên giải quyết những nhiệm vụ chi cấp bách trước mắt, vô tình gạt bỏ hoặc làm mờ nhạt đi các mục tiêu dài hạn về công bằng giới, vốn là thước đo cho sự phát triển bền vững của một thể chế.

Nhận diện khoảng trống giới trong chu trình ngân sách- Ảnh 3.

Nhận diện khoảng trống giới trong chu trình ngân sách- Ảnh 4.

Để chính sách tài khóa "chạm" đúng đối tượng, dữ liệu thống kê phân tách giới chính là xương sống, GS.TS Hoàng Bá Thịnh - nguyên Trưởng bộ môn Giới, Khoa Xã hội học, Trường ĐH KHXH&NV (ĐH Quốc gia Hà Nội), thẳng thắn cho rằng: "Dữ liệu tách biệt theo giới tính hiện nay của Việt Nam chủ yếu mới có ở cấp trung ương và tỉnh. Đi sâu vào tầm vi mô như cấp phường, cấp xã thì còn rất hạn chế". Vấn đề dữ liệu về giới cũng được đưa ra bàn thảo tại phiên họp thẩm tra sơ bộ của Thường trực Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội (khóa XV) về 5 năm thực hiện Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới 2021-2030. Bên cạnh những kết quả khả quan, Báo cáo cũng thẳng thắn chỉ ra 7 chỉ tiêu còn gặp khó khăn hoặc chưa đạt mục tiêu. Một trong những nguyên nhân của những chỉ tiêu chưa đạt chính là do thiếu số liệu thống kê.

Nhận diện khoảng trống giới trong chu trình ngân sách- Ảnh 5.

Sự thiếu hụt dữ liệu không chỉ tạo ra "chu kỳ mù mờ" mà còn dẫn đến lãng phí nguồn lực công. Khi không có con số định lượng, ngân sách cho bình đẳng giới dễ bị coi là khoản "chi phí an sinh", mang tính ban phát nhất thời. Tình trạng này vô hình trung tạo nên một vòng lặp bế tắc, thiếu dữ liệu khiến các báo cáo đánh giá tác động giới dễ rơi vào tính hình thức, và chính sự hình thức đó lại triệt tiêu mọi cơ sở khoa học để kiến nghị một nguồn ngân sách xứng tầm.

Chính sự đứt gãy của dòng chảy dữ liệu đã trở thành "ngòi nổ" dẫn đến hàng loạt hệ lụy. Khi thiếu vắng những bằng chứng định lượng thuyết phục, các quy định hiện nay vẫn dừng lại ở mức khung mà thiếu đi những hướng dẫn thực thi chi tiết, đặc biệt là các chế tài đủ mạnh để ràng buộc trách nhiệm giải trình. Hệ quả trực tiếp là sự phối hợp giữa cơ quan tài chính và cơ quan quản lý nhà nước về bình đẳng giới trở nên lỏng lẻo do thiếu một "ngôn ngữ chung" là hệ thống chỉ số thống kê để đối thoại.

Nhận diện khoảng trống giới trong chu trình ngân sách- Ảnh 6.

Nhìn ra thế giới, cách tiếp cận về công bằng xã hội trong "kỷ nguyên" 2026 đã không còn dừng lại ở những cam kết mang tính tự nguyện hay các chương trình hỗ trợ đơn lẻ. Các nền kinh tế tiên tiến đang định nghĩa lại "ngân sách nhạy cảm giới" như một phép tính kinh tế sòng phẳng và một khoản đầu tư sinh lời bền vững. Trong dòng chảy đó, Việt Nam không thể đứng ngoài cuộc; chúng ta cần một cuộc cách mạng về tư duy, phải biến nhu cầu của phụ nữ từ những khái niệm trừu tượng thành các dữ liệu được "số hóa" để chứng minh hiệu quả đầu tư thực tế.

Chừng nào các chỉ số giới chưa được luật hóa minh bạch với chế tài cụ thể, các mục tiêu dài hạn vẫn sẽ dễ dàng bị gạt sang bên lề trước áp lực chi tiêu cấp bách. Việc lấp đầy khoảng trống này không chỉ đơn thuần là thực hiện mục tiêu bình đẳng, mà chính là thước đo năng lực quản trị tài chính quốc gia. Như TS. Vũ Thị Lưu Mai đã khẳng định: "Bình đẳng giới chỉ thực sự bước ra khỏi những văn bản chính trị để trở thành hiện thực sống động khi mỗi đồng thuế chi ra được bảo chứng bằng pháp luật tiến bộ và trách nhiệm giải trình nghiêm túc".

Nhận diện khoảng trống giới trong chu trình ngân sách- Ảnh 7.

Khoảng trống giới không nằm ở chủ trương, mà ở công cụ và cơ chế thực thi

Thực hiện: KIM THANH

Thiết kế: TRẦN THẮNG

Kỳ 3: Kinh nghiệm quốc tế và bài học vì sự phát triển bền vững 

Ngân sách có trách nhiệm giới: Từ cam kết chính sách đến bình đẳng thực chất

Ngân sách có trách nhiệm giới: Từ cam kết chính sách đến bình đẳng thực chất

Giới & Phát triển 21:52 20/04/2026

Sau hơn 30 năm thực hiện Cương lĩnh Hành động Bắc Kinh và Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021-2030, Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững - không để ai bị bỏ lại phía sau, Việt Nam có bước tiến quan trọng về bình đẳng giới. Tuy nhiên, ngân sách có trách nhiệm giới nhằm tiến tới bình đẳng thực chất mới đạt được kết quả bước đầu. Còn rất nhiều vấn đề đặt ra cần giải quyết.

Luật Thủ đô (sửa đổi): Khi "quyền trên giấy" phải đo bằng chất lượng sống của người dân

Luật Thủ đô (sửa đổi): Khi "quyền trên giấy" phải đo bằng chất lượng sống của người dân

Thời cuộc 16:57 16/04/2026

Dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi) với các cơ chế đặc thù cho Hà Nội chỉ thực sự có ý nghĩa khi được chuyển hóa thành những thay đổi hữu hình trong đời sống người dân hằng ngày. Nếu không tạo ra sự cải thiện thực chất về chất lượng sống, mọi quy định sẽ chỉ dừng lại ở "quyền trên giấy". Và vì thế, thước đo cuối cùng của đạo luật không nằm ở mức độ trao quyền, mà ở chính cuộc sống của người dân có tốt hơn hay không.

Hạnh phúc Việt Nam: Từ chỉ số đến đời sống - Bài cuối: Khi chính sách "chạm" tới từng gia đình

Hạnh phúc Việt Nam: Từ chỉ số đến đời sống - Bài cuối: Khi chính sách "chạm" tới từng gia đình

Xã hội 09:53 15/04/2026

Việt Nam thăng hạng hạnh phúc là tín hiệu tích cực nhưng giữ được hạnh phúc mới là bài toán dài hạn. Khi áp lực đời sống ngày càng đa chiều, từ kinh tế, quan hệ đến sức khỏe tinh thần, hạnh phúc không thể chỉ là cảm nhận. Từ việc xây dựng Bộ chỉ số gia đình hạnh phúc đến triển khai các mô hình hỗ trợ tại cộng đồng, một cách tiếp cận mới đang dần hình thành, trong đó đo lường giúp nhận diện vấn đề, can thiệp đúng địa chỉ và duy trì đồng hành từ cơ sở để hạnh phúc trở thành năng lực bền vững.

Vợ chồng quân nhân: Lan tỏa những giá trị tích cực để xây dựng môi trường mạng xã hội lành mạnh

Vợ chồng quân nhân: Lan tỏa những giá trị tích cực để xây dựng môi trường mạng xã hội lành mạnh

Gia đình 09:34 15/04/2026

Sinh ra trong gia đình có truyền thống nhiều thế hệ gắn bó với quân đội, vợ chồng Thượng tá Đỗ Anh Tuấn - Phó Chủ nhiệm Chính trị, Trung đoàn không quân 917 (Sư đoàn 370, Quân chủng Phòng không - Không quân) và Thượng tá Phạm Thị Hoa - Giảng viên Học viện Phòng không - Không quân, đến với nhau bằng tình yêu và sự gặp gỡ của lý tưởng, trách nhiệm.

Hạnh phúc Việt Nam: Từ chỉ số đến đời sống - Bài 2: Mạch ngầm hạnh phúc của người Việt

Hạnh phúc Việt Nam: Từ chỉ số đến đời sống - Bài 2: Mạch ngầm hạnh phúc của người Việt

Xã hội 21:58 10/04/2026

Mạch ngầm hạnh phúc thực sự của người Việt được dệt nên từ sợi dây gắn kết gia đình bền chặt và niềm tin cộng đồng thuần hậu. Từ nếp nhà nhiều thế hệ luôn ấm áp tình thân đến những xóm làng sẵn lòng nhường cơm sẻ áo lúc hoạn nạn, thiên tai, một triết lý nhân sinh giản dị mà mạnh mẽ luôn hiện hữu: Việt Nam có thể chưa giàu, nhưng chắc chắn là nơi "không ai bị bỏ lại phía sau".

Đắk Lắk: Gỡ "nút thắt" du lịch để biến di sản thành những câu chuyện giàu cảm xúc

Đắk Lắk: Gỡ "nút thắt" du lịch để biến di sản thành những câu chuyện giàu cảm xúc

Du lịch 17:20 09/04/2026

Hành trình khảo sát "Đắk Lắk - Về miền di sản" không chỉ là một chuyến đi thực địa đơn thuần, mà đã trở thành cuộc "hội chẩn" quy mô nhằm tìm kiếm những điểm thắt, gỡ bỏ rào cản và đánh thức tiềm năng du lịch Đắk Lắk thông qua lăng kính của sự thật và cảm xúc. Khởi nguồn từ khát vọng định vị lại giá trị của vùng đất đại ngàn, hơn 70 đại biểu từ các cơ quan báo chí và đơn vị lữ hành đã trải nghiệm buôn làng, di tích để "bắt mạch" thực trạng, từ đó hiến kế cho một chiến lược liên kết vùng bền vững.

Hạnh phúc Việt Nam: Từ chỉ số đến đời sống -  Bài 1: Lấy hạnh phúc của Nhân dân làm mục tiêu và động lực phát triển

Hạnh phúc Việt Nam: Từ chỉ số đến đời sống - Bài 1: Lấy hạnh phúc của Nhân dân làm mục tiêu và động lực phát triển

Xã hội 15:55 09/04/2026

Việc Việt Nam không ngừng thăng hạng trong Báo cáo “Hạnh phúc Thế giới” liên tiếp những năm gần đây cho thấy sự cải thiện đáng kể về chất lượng cuộc sống, an sinh xã hội và tinh thần của người dân. Đồng thời, khẳng định chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước ta khi lấy con người làm trung tâm, lấy hạnh phúc của Nhân dân làm mục tiêu phát triển bền vững.

"Hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp" - Bài cuối: Đề án 2415 - Kỳ vọng bứt phá

"Hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp" - Bài cuối: Đề án 2415 - Kỳ vọng bứt phá

Giới & Phát triển 14:20 31/03/2026

Khởi nghiệp với phụ nữ là hành trình bền bỉ vượt qua định kiến để khẳng định vai trò trong phát triển kinh tế. Đề án 2415 được kỳ vọng sẽ tiếp thêm động lực, nâng cao năng lực và thúc đẩy kết nối bền vững cho phụ nữ khởi nghiệp.