Những người phụ nữ "giữ hồn" cho làng nghề chè truyền thống
Năm nay, mùa đông đến muộn, thế nên, thời điểm này, ở các đồi chè xanh mướt ở thôn Tiên Trường (Tiên Hội, Đại Từ, Thái Nguyên) nhộn nhịp người hái. Tiếng nói, tiếng cười nhưng tay hái chè của các chị, các cô vẫn nhanh thoăn thoắt. Ở làng nghề chè truyền thống ở đây, phần lớn các chị em, phụ nữ làm nghề. Cần mẫn, khéo léo, tỉ mỉ và rất yêu nghề, họ chính là người giữ hồn cho làng nghề chè nơi đây.
Năm nay, mùa đông đến muộn, thế nên, thời điểm này, các đồi chè vẫn xanh mướt
"Sống khoẻ" từ cây chè
Tay thoăn thoắt hái chè, chị Nguyễn Thị Toán (thôn Tiên Trường 2, xã Tiên Hội, Đại Từ, Thái Nguyên) giải thích: Nguyên tắc của hái chè là hái 1 tôm 2 lá. Nếu hái sâu xuống thì chè sẽ không ngon. Đưa nắm ngọn chè vừa hái cho chúng tôi ngửi, chị Toán cho biết: Thời điểm này chưa rét nên chè xanh tốt mơn mởn. Chè mùa này rất thơm và ngon. Nếu là những năm trước, chè đang "ngủ đông". Cái rét khiến chè không lên nổi. Trong khi mùa hè, chè cho thu hoạch từ 30-35 ngày/lứa thì mùa đông là 60-90 ngày/lứa. Như mọi năm, từ tháng 11 đến tháng 1, sẽ không thu hoạch được chè. Năm nay mùa đông đến muộn, thời điểm không thu hoạch chè cũng sẽ muộn hơn, từ tháng 12 đến tháng 2. Chè mùa xuân sẽ là ngon nhất vì sau khi nghỉ mấy tháng mùa đông, chè sẽ bật mầm lên. Hoặc chè cuối năm cũng ngon do chè được ngậm sương.
Nhà chị Toán trồng hơn 1 mẫu chè. Hôm chúng tôi đến cũng là ngày nhà chị thu hoạch chè. Chị Toán cho biết, chè chỉ thu hoạch trong 1-2 ngày. Thế nên, chị phải thuê thêm chục thợ đến hái chè. Với giá thuê hái là 8.000đ/kg thì những người hái nhanh cũng có thể kiếm 300.000đ-500.000d/ngày.
Chủ yếu là những phụ nữ U50, U60 ở nhà làm chè
Chị Toán không phải dân gốc ở đất chè Tiên Hội. Thế nhưng, chị cũng gắn bó với nghề trồng chè, làm chè ở đây hơn 30 năm và tình yêu chị dành cho cây chè rất lớn. Bởi, nhờ có cây chè mà chị "sống khoẻ". "Mỗi năm, chè cho thu hoạch 7 lứa. Mỗi lứa được 4-6 tạ chè. Chè tươi bán được 45.000đ/kg, vị chi riêng cây chè cũng cho thu nhập trăm triệu đồng/năm. Chỉ trồng chè thôi thì không giàu được, thế nhưng chè cho thu nhập ổn định, cao hơn lúa khá nhiều. Tính ra, thu nhập từ trồng chè cao hơn lương làm công nhân ở các công ty. Thế nhưng, giờ người trẻ chỉ thích ra ngoài làm công ty, chỉ còn những phụ nữ U50, U60 ở nhà làm chè. Tuy nhiên, khi hết muốn "bay nhảy" ở bên ngoài, khi hết thời tuổi trẻ, các bạn ấy lại quay về nhà để… làm chè. Cây chè vẫn là quê hương, vẫn là cuộc sống của người dân ở đây", chị Toán chia sẻ.
Giữ thương hiệu cho làng nghề chè truyền thống
Con đường bước vào làng nghề chè truyền thống xã Tiên Hội
Chè nhà chị Toán cũng như của 90% số hộ dân trong xã Tiên Hội khi được hái xong sẽ được đưa đến cơ sở sản xuất chè của chị Khúc Thị Hường (thôn Tiên Trường 2, xã Tiên Hội). Đây là xưởng sản xuất chè lớn nhất của làng nghề chè truyền thống xóm Tiên Trường 2. Lúc nào trong xưởng cũng có 6-7 lao động hăng say làm việc.
Chị Hường cho biết, quy trình chế biến chè xanh tại xưởng của chị gồm hơn chục bước: Búp chè tươi-Làm héo- Diệt men- Vò và rũ tơi- Sao khô lần 1-Sao khô lần 2- Sao khô lần 3- Chè bán thành phẩm- Ủ hương- Đấu trộn- Đóng gói bảo quản- Chè thành phẩm. Để sao chè ngon, xưởng chè của gia đình chị Hường vẫn dùng bếp củi. Và mọi công đoạn, dù có máy hỗ trợ nhưng vẫn làm thủ công là chủ yếu.
Chè ở làng nghề chè truyền thống của xã Tiên Hội được đánh giá là ngon. Dù chưa có thương hiệu như chè Tân Cương nhưng chất lượng chè ở đây không kém, thậm chí ngang ngửa với chè Tân Cương. Chè ngon, có chất lượng tốt hơn hẳn các vùng khác, theo chị Hường, quan trọng nhất là nhờ chất đất ở xã Tiên Hội. Ngoài ra, tất cả các khâu làm chè đều rất quan trọng. "Từ khâu chăm sóc chè, thu hoạch đúng lứa, hái đúng kỹ thuật đến các khâu chế biến tại xưởng. Chỉ cần hỏng 1 khâu là coi như mẻ chè… vứt đi". Thế nên, để giữ được chất lượng chè, những người thợ mà chị Hường chọn làm cho cơ sở của mình cũng đều có tay nghề giỏi.
Kỹ càng, chăm chút trong từng công đoạn nên chè của xưởng chị Hường được nhiều nơi biết đến, cơ sở sản xuất đươc mở rộng ra dần dần. Chị Hường cho biết, mỗi tháng, xưởng của chị bán được khoảng chục tấn. Khách hàng của chị thường là các doanh nghiệp chè hoặc các đại lý lớn. "Có rất nhiều loại chè. Có những loại chè ngon giá tiền triệu. Chúng tôi luôn cố gắng làm uy tín nhất để giữ thương hiệu làng nghề chè truyền thống xã Tiên Hội. Ở nhiều nơi, để tạo màu xanh cho chén nước chè, người ta cho "chất xanh" vào chè. Chè tự nhiên thường không có màu xanh mà chỉ có màu vàng vàng hanh hanh. Thậm chí, có những chè khi vào mùa đông còn cho nước màù "đỏ" khiến khách hàng không thích. Chính sở thích "nước chè màu xanh" của người tiêu dùng khiến người làm chè ở nhiều nơi sử dụng hoá chất, những chất ảnh hưởng đến sức khoẻ. Chúng tôi luôn cố gắng giữ thương hiệu cho làng nghề chè truyền thống bằng việc làm ra chè ngon nhưng phải sạch", chị Hường chia sẻ.
Chuyển đổi số & yêu cầu phát triển bao trùm - Bài 4: Hội LHPN Việt Nam trong hành trình trao quyền số cho phụ nữ
Giới & Phát triển 11:33 27/04/2026Trong dòng chảy sôi động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chuyển đổi số không còn là một khái niệm xa vời mà đã trở thành yêu cầu sống còn để tồn tại và phát triển. Đối với phụ nữ Việt Nam, công nghệ số vừa là cánh cửa mở ra cơ hội bình đẳng, vừa là thách thức lớn nếu họ bị bỏ lại phía sau do rào cản về kỹ năng và định kiến.
Chuyển đổi số & yêu cầu phát triển bao trùm - Bài 3: Bên trong những "chiếc bẫy số"
Giới & Phát triển 22:05 26/04/2026Trong kỷ nguyên số, chỉ một cú nhấp chuột có thể mở ra cơ hội nhưng cũng có thể dẫn tới rủi ro. Không gian mạng đang trở thành “mặt trận” mới của lừa đảo, bạo lực và xâm hại trực tuyến, trong đó phụ nữ và trẻ em là nhóm chịu tổn thương rõ rệt nhất. Khi chuyển đổi số diễn ra nhanh hơn khả năng bảo vệ, bất bình đẳng không những không thu hẹp mà còn có nguy cơ bị khoét sâu hơn.
Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Hội - Bài cuối: Lời giải từ cơ sở
Giới & Phát triển 09:56 26/04/2026Không chỉ giúp một chi hội thay đổi, mô hình “1+1” đang mở ra một cách tiếp cận mới trong nâng cao chất lượng cán bộ Hội từ cấp cơ sở.
Chuyển đổi số & yêu cầu phát triển bao trùm - Bài 2: Khoảng cách giới trong chuyển đổi số: Những "vùng trũng" âm thầm
Giới & Phát triển 08:31 26/04/2026Chuyển đổi số được kỳ vọng là “đòn bẩy” xóa bỏ rào cản địa lý và mở rộng cơ hội cho mọi người. Thế nhưng, đằng sau bức tranh tăng trưởng công nghệ đầy ấn tượng, một khoảng cách giới âm thầm đang dần hình thành. Nếu không nhận diện rõ những “vùng trũng” và có giải pháp kịp thời, phụ nữ có nguy cơ bị bỏ lại phía sau trong chính cuộc cách mạng được coi là bao trùm nhất của thời đại.
Nâng cao chất lượng cán bộ Hội cơ sở: Bài 1- Góc nhìn từ mô hình "1+1"
Giới & Phát triển 22:43 25/04/2026Từ thực tiễn nhiều địa phương, mô hình “1+1” đang tạo nên những chuyển động từ cơ sở, góp phần tạo nên nền tảng vững chắc cho tổ chức Hội trong giai đoạn mới.
Chuyển đổi số & yêu cầu phát triển bao trùm - Bài 1: Phụ nữ không thể đứng ngoài cuộc
Giới & Phát triển 21:31 25/04/2026Với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, phụ nữ đã chủ động tham gia vào không gian số với vai trò chủ thể là người sáng tạo nội dung, người kinh doanh số, người truyền cảm hứng cho cộng đồng... Trong dòng chảy mạnh mẽ của công nghệ số, phụ nữ - lực lượng chiếm một nửa dân số đã và đang chứng tỏ sức sáng tạo không giới hạn.
Ngân sách có trách nhiệm giới - Kỳ cuối: Từ cam kết chính sách đến hành động thực tế
Giới & Phát triển 15:36 23/04/2026Sau khi đã nhận diện những "khoảng trống" và soi chiếu từ những bài học quốc tế, câu hỏi then chốt đặt ra cho Việt Nam lúc này là: Làm thế nào để hiện thực hóa những cam kết bình đẳng giới vào trong từng dòng tiền ngân sách? Thực tế đòi hỏi chúng ta không chỉ dừng lại ở những tuyên ngôn mang tính nguyên tắc, mà phải chuyển đổi sang một lộ trình hành động thực chất, nơi ngân sách nhạy cảm giới trở thành công cụ bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong tiến trình phát triển.
Ngân sách có trách nhiệm giới - Kỳ 3: Kinh nghiệm quốc tế và bài học vì sự phát triển bền vững
Giới & Phát triển 16:55 22/04/2026Nếu ngân sách là một "bản tuyên ngôn" bằng số, thì dòng tiền chính là thước đo trung thực nhất cho cam kết bình đẳng của một quốc gia. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, chỉ khi mỗi đồng thuế được chi ra dựa trên dữ liệu giới chính xác, nguồn lực công mới thực sự trở thành đòn bẩy vì sự phát triển bền vững.









