Xem thêm thông tin của Báo PNVN trên
Phụ nữ Việt Nam
MỚI NHẤT ĐỘC QUYỀN MULTIMEDIA CHUYÊN ĐỀ

Xuất khẩu đến năm 2030: Kịch bản nào đưa Việt Nam vượt 1.000 tỷ USD?

Thùy Linh
Xuất khẩu đến năm 2030: Kịch bản nào đưa Việt Nam vượt 1.000 tỷ USD?

Xuất nhập khẩu hàng hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, đưa ra ba kịch bản kim ngạch xuất khẩu. Ảnh minh họa

Dự thảo Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, đưa ra ba kịch bản kim ngạch xuất khẩu, từ 765 tỷ USD đến 1.041,1 tỷ USD. Khoảng cách giữa các phương án không chỉ phản ánh những mức kỳ vọng khác nhau, mà còn cho thấy quy mô nỗ lực cần thiết để Việt Nam tiến tới mục tiêu xuất khẩu vượt 1.000 tỷ USD.

Ba kịch bản, ba mức tăng trưởng khác biệt

Theo dự thảo Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, cơ quan soạn thảo xây dựng ba kịch bản tăng trưởng xuất khẩu. Ở kịch bản thấp, kim ngạch xuất khẩu đến năm 2030 dự kiến đạt 765 tỷ USD; kịch bản trung bình đạt 953,7 tỷ USD; còn kịch bản cao hướng tới 1.041,1 tỷ USD.

Như vậy, chênh lệch giữa kịch bản cao nhất và thấp nhất lên tới 276,1 tỷ USD. Đây không đơn thuần là khoảng cách về quy mô kim ngạch, mà phản ánh những giả định khác nhau về năng lực sản xuất, sức cạnh tranh của doanh nghiệp, khả năng mở rộng thị trường và mức độ tham gia của Việt Nam vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

So với quy mô xuất khẩu khoảng 475 tỷ USD của năm 2025, các mục tiêu đặt ra cho năm 2030 đòi hỏi tốc độ tăng trưởng khá cao. Nếu tính theo tốc độ tăng trưởng kép bình quân hằng năm trong giai đoạn 2025–2030, kịch bản 765 tỷ USD tương ứng mức tăng khoảng 10%/năm; kịch bản 953,7 tỷ USD cần khoảng 15%/năm; trong khi để đạt 1.041,1 tỷ USD, xuất khẩu phải tăng bình quân khoảng 17%/năm.


Xuất khẩu đến năm 2030: Kịch bản nào đưa Việt Nam vượt 1.000 tỷ USD?- Ảnh 1.

Nguồn: Bộ Công Thương

Đây là các mức tăng trưởng được tính toán từ quy mô xuất khẩu năm 2025 và giá trị mục tiêu năm 2030 của từng kịch bản, không phải tốc độ tăng trưởng riêng được dự thảo công bố cho từng phương án. Phép tính cho thấy, để vượt mốc 1.000 tỷ USD, Việt Nam cần duy trì nhịp tăng trưởng cao hơn đáng kể so với mức tăng trưởng bình quân 15–16%/năm mà dự thảo đặt ra cho xuất khẩu trong giai đoạn 2026–2030.

Thực tế những tháng đầu năm 2026 đang cho thấy đà tăng trưởng khá mạnh. Theo số liệu của Cục Thống kê, 10 tháng năm 2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa đạt 1.010,55 tỷ USD, tăng 32,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu đạt 499,24 tỷ USD, tăng 27,5%.

Tuy nhiên, tăng trưởng xuất khẩu vẫn phụ thuộc lớn vào khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Trong 10 tháng, khu vực này đạt kim ngạch xuất khẩu 405,31 tỷ USD, chiếm 81,2% tổng kim ngạch; khu vực kinh tế trong nước đạt 93,93 tỷ USD, tương ứng 18,8%.

Tỷ trọng này cho thấy một nghịch lý đáng chú ý: Việt Nam đã trở thành một mắt xích quan trọng trong mạng lưới sản xuất và xuất khẩu toàn cầu, nhưng năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp trong nước vẫn còn khiêm tốn so với khu vực FDI. Vì vậy, quy mô xuất khẩu tăng nhanh chưa đồng nghĩa với việc giá trị gia tăng được giữ lại trong nền kinh tế cũng tăng tương ứng.

Kịch bản vượt 1.000 tỷ USD cần những điều kiện nào?

Điểm khác biệt giữa các kịch bản không chỉ nằm ở tốc độ tăng trưởng, mà còn ở khả năng chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo hướng chủ động và có giá trị gia tăng cao hơn.

Dự thảo Chiến lược đặt mục tiêu đến năm 2030, tỷ trọng xuất khẩu của khu vực kinh tế trong nước đạt khoảng 28–30%; tỷ trọng hàng công nghiệp chế biến, chế tạo trong tổng kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 89–90%. Đáng chú ý, tỷ trọng hàng hóa công nghệ cao trong nhóm hàng công nghiệp chế biến, chế tạo được định hướng đạt khoảng 50%.

Những mục tiêu này cho thấy yêu cầu không chỉ là mở rộng sản lượng hay tìm kiếm thêm đơn hàng, mà còn phải nâng năng lực của doanh nghiệp Việt Nam trong các khâu có giá trị cao hơn. Nếu doanh nghiệp trong nước vẫn chủ yếu tham gia ở công đoạn gia công, lắp ráp hoặc cung ứng những sản phẩm có hàm lượng công nghệ thấp, phần giá trị thu được từ tăng trưởng xuất khẩu sẽ khó cải thiện tương xứng.

Một trong những điểm nghẽn nằm ở công nghiệp hỗ trợ và khả năng cung ứng nguyên vật liệu, linh kiện trong nước. Khi doanh nghiệp nội địa chưa đáp ứng được yêu cầu về chất lượng, quy mô và tính ổn định, các nhà sản xuất vẫn phải phụ thuộc vào nguồn cung nhập khẩu. Điều này vừa làm tăng chi phí đầu vào, vừa khiến giá trị gia tăng nội địa bị hạn chế.

Tại một cuộc trao đổi về định hướng phát triển công nghiệp, ông Phạm Văn Quân, Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp, nhấn mạnh: "Khi doanh nghiệp trong nước có khả năng cung ứng linh kiện, nguyên phụ liệu và sản phẩm công nghiệp hỗ trợ, mức độ chủ động của chuỗi sản xuất sẽ được cải thiện, đồng thời tạo thêm cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào các mạng lưới cung ứng quốc tế".

Đây cũng là điều kiện quan trọng để khu vực doanh nghiệp trong nước không chỉ tăng kim ngạch xuất khẩu trực tiếp, mà còn tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng của các tập đoàn FDI. Khi năng lực cung ứng nội địa được cải thiện, doanh nghiệp Việt Nam có thêm cơ hội mở rộng thị trường, nâng chất lượng sản phẩm và giữ lại phần giá trị lớn hơn trong nước.

Xuất khẩu đến năm 2030: Kịch bản nào đưa Việt Nam vượt 1.000 tỷ USD?- Ảnh 2.

Ảnh minh họa

Bên cạnh năng lực sản xuất, khả năng tiếp cận vốn, công nghệ và nhân lực chất lượng cao cũng ảnh hưởng trực tiếp đến triển vọng hiện thực hóa kịch bản tăng trưởng cao. Đặc biệt, với các ngành có yêu cầu lớn về công nghệ, tiêu chuẩn môi trường và truy xuất nguồn gốc, doanh nghiệp phải đầu tư dài hạn để đáp ứng những yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường nhập khẩu.

Nếu không cải thiện được những nền tảng này, tăng trưởng xuất khẩu có thể tiếp tục dựa nhiều vào một số ngành hàng và khu vực doanh nghiệp có lợi thế sẵn có. Khi đó, mục tiêu vượt 1.000 tỷ USD sẽ đối mặt với rủi ro về tính bền vững, nhất là khi chu kỳ thương mại toàn cầu thay đổi hoặc nhu cầu tại các thị trường lớn suy yếu.

Thị trường và sức chống chịu quyết định dư địa tăng trưởng

Một thách thức khác đối với mục tiêu xuất khẩu đến năm 2030 là mức độ tập trung thị trường. Xuất khẩu Việt Nam đang phụ thuộc đáng kể vào một số thị trường lớn, trong khi nguồn cung nguyên liệu và linh kiện nhập khẩu cũng tập trung ở một số đối tác nhất định.

Sự phụ thuộc này có thể tạo thuận lợi khi nhu cầu thế giới tăng, nhưng cũng khiến doanh nghiệp dễ bị tổn thương trước các biến động về chính sách thương mại, hàng rào kỹ thuật, chi phí logistics và địa chính trị. Những thay đổi trong quy định xuất xứ, tiêu chuẩn môi trường hay cơ chế phòng vệ thương mại có thể tác động trực tiếp đến khả năng duy trì đơn hàng của doanh nghiệp.

Cơ cấu xuất nhập khẩu cũng cho thấy một điểm cần lưu ý. Trong 10 tháng năm 2026, nhập khẩu đạt 511,31 tỷ USD, tăng 37,4%, cao hơn tốc độ tăng của xuất khẩu. Cán cân thương mại vì thế ghi nhận nhập siêu khoảng 12,07 tỷ USD.

Nhập khẩu tăng không nhất thiết là tín hiệu tiêu cực, bởi phần lớn nguyên liệu, máy móc và linh kiện được đưa vào phục vụ sản xuất, xuất khẩu. Tuy nhiên, khi tốc độ tăng nhập khẩu cao hơn xuất khẩu, câu hỏi đặt ra là mức độ phụ thuộc vào đầu vào bên ngoài của nền sản xuất trong nước đang ở đâu, và bao nhiêu giá trị từ mỗi đơn hàng xuất khẩu thực sự được tạo ra trong nước.

Một ví dụ đáng chú ý là nhóm hàng máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện. Đây là một trong những nhóm hàng xuất khẩu chủ lực, nhưng đồng thời cũng có kim ngạch nhập khẩu rất lớn. Trong 10 tháng năm 2026, xuất khẩu nhóm hàng này đạt khoảng 135,3 tỷ USD, trong khi nhập khẩu đạt khoảng 201 tỷ USD, tương ứng nhập siêu khoảng 65,7 tỷ USD.

Xuất khẩu đến năm 2030: Kịch bản nào đưa Việt Nam vượt 1.000 tỷ USD?- Ảnh 3.

Ảnh minh họa

Khoảng cách này phản ánh đặc điểm của chuỗi sản xuất điện tử: Việt Nam có quy mô xuất khẩu lớn, nhưng vẫn phải nhập khẩu lượng đáng kể linh kiện, máy móc và đầu vào phục vụ sản xuất. Vì vậy, tăng trưởng kim ngạch ở những ngành hàng chủ lực cần được nhìn nhận cùng với năng lực cung ứng trong nước và phần giá trị gia tăng được giữ lại.

Để giảm rủi ro, dự thảo Chiến lược định hướng đa dạng hóa thị trường, hạn chế mức độ phụ thuộc vào một số thị trường xuất khẩu lớn. Theo đó, mục tiêu đến năm 2030 là không để một thị trường xuất khẩu chiếm quá 25% tổng kim ngạch; tỷ trọng cộng gộp của ba thị trường hoặc khu vực xuất khẩu lớn nhất dưới 55%. Đồng thời, Việt Nam hướng tới mở rộng thị trường tại Nam Á, Trung Đông, châu Phi và Mỹ Latinh, với tỷ trọng khoảng 10%.

Đa dạng hóa thị trường không chỉ giúp doanh nghiệp có thêm đầu ra, mà còn tạo dư địa phân tán rủi ro khi một thị trường thay đổi chính sách hoặc nhu cầu tiêu dùng. Tuy nhiên, mở rộng thị trường mới cũng đòi hỏi doanh nghiệp đầu tư vào hệ thống phân phối, nghiên cứu thị hiếu, tiêu chuẩn chất lượng và năng lực đáp ứng các quy định nhập khẩu.

Kịch bản xuất khẩu vượt 1.000 tỷ USD vào năm 2030 là mục tiêu có tham vọng lớn, đòi hỏi tốc độ tăng trưởng cao và sự chuyển biến đồng thời ở nhiều khâu của nền kinh tế. Đà tăng trưởng hiện tại tạo nền tảng thuận lợi, nhưng để biến con số mục tiêu thành kết quả thực chất, Việt Nam cần nâng năng lực của doanh nghiệp trong nước, tăng tỷ lệ nội địa hóa, cải thiện giá trị gia tăng và giảm phụ thuộc vào một số thị trường, nguồn cung chủ chốt.

Khi đó, thước đo thành công của xuất khẩu không chỉ là kim ngạch đạt bao nhiêu tỷ USD, mà còn là doanh nghiệp Việt Nam giữ lại được bao nhiêu giá trị, làm chủ được bao nhiêu công đoạn trong chuỗi sản xuất và có khả năng chống chịu ra sao trước những biến động của thương mại toàn cầu.

Ý kiến của bạn
Bình luận