Luật & Đời

Thời gian nghỉ thai sản trùng với nghỉ lễ, có được nghỉ bù?

Xem trên mobile
Vợ chồng tôi đều làm việc trong một công ty Nhà nước. Đầu tháng 2/2019, tôi sinh con và nghỉ chế độ thai sản. Tuy nhiên, thời gian nghỉ thai sản của tôi trùng vào các dịp nghỉ lễ như Giỗ Tổ, 30/4 và 1/5...
a1.jpg
Ảnh minh họa

Hỏi: Vợ chồng tôi đều làm việc trong một công ty nhà nước. Đầu tháng 2/2019, tôi sinh con và nghỉ chế độ thai sản. Tuy nhiên, thời gian nghỉ thai sản của tôi trùng vào các dịp nghỉ lễ như Giỗ Tổ, 30/4 và 1/5... Xin Báo PNVN cho biết, thời gian nghỉ thai sản của tôi trùng với các dịp nghỉ lễ đó thì có được nghỉ bù không? Pháp luật quy định như thế nào về thời gian nghỉ thai sản của người chồng khi có vợ sinh con?

Kiều Thị Thu Hà (Long An)

Trả lời: Theo quy định tại Điều 34, Luật Bảo hiểm xã hội 2014 về thời gian hưởng chế độ khi sinh con, thì:

1. Lao động nữ sinh con được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản trước và sau khi sinh con là 06 tháng. Trường hợp lao động nữ sinh đôi trở lên thì tính từ con thứ hai trở đi, cứ mỗi con, người mẹ được nghỉ thêm 01 tháng.

Thời gian nghỉ hưởng chế độ thai sản trước khi sinh tối đa không quá 02 tháng.

2. Lao động nam đang đóng bảo hiểm xã hội khi vợ sinh con được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản như sau:

a) 05 ngày làm việc;

b) 07 ngày làm việc khi vợ sinh con phải phẫu thuật, sinh con dưới 32 tuần tuổi;

c) Trường hợp vợ sinh đôi thì được nghỉ 10 ngày làm việc, từ sinh ba trở lên thì cứ thêm mỗi con được nghỉ thêm 03 ngày làm việc;

d) Trường hợp vợ sinh đôi trở lên mà phải phẫu thuật thì được nghỉ 14 ngày làm việc.

Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản quy định tại khoản này được tính trong khoảng thời gian 30 ngày đầu kể từ ngày vợ sinh con…

3. Trường hợp chỉ có mẹ tham gia bảo hiểm xã hội hoặc cả cha và mẹ đều tham gia bảo hiểm xã hội mà mẹ chết sau khi sinh con thì cha hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản đối với thời gian còn lại của người mẹ theo quy định tại khoản 1 Điều này. Trường hợp mẹ tham gia bảo hiểm xã hội nhưng không đủ điều kiện quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều 31 của Luật này mà chết thì cha hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản cho đến khi con đủ 06 tháng tuổi.

5. Trường hợp cha hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng tham gia bảo hiểm xã hội mà không nghỉ việc theo quy định tại khoản 4 Điều này thì ngoài tiền lương còn được hưởng chế độ thai sản đối với thời gian còn lại của mẹ theo quy định tại khoản 1 Điều này.

6. Trường hợp chỉ có cha tham gia bảo hiểm xã hội mà mẹ chết sau khi sinh con hoặc gặp rủi ro sau khi sinh mà không còn đủ sức khỏe để chăm sóc con theo xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền thì cha được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản cho đến khi con đủ 06 tháng tuổi.

7. Thời gian hưởng chế độ thai sản quy định tại các khoản 1, 3, 4, 5 và 6 Điều này tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần.

Căn cứ vào các quy định nêu trên, thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản được tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết... Do vậy, chị không được nghỉ bù khi ngày nghỉ thai sản trùng với ngày nghỉ lễ.

Luật gia Đăng Khôi

Bạn đang đọc bài viết Thời gian nghỉ thai sản trùng với nghỉ lễ, có được nghỉ bù? tại chuyên mục Luật & Đời của phunuvietnam.vn. Bạn có thể Cùng làm báo với chúng tôi bằng cách gửi tin, bài, ảnh, video hoặc ý kiến chia sẻ, phản hồi về

Email: pnvnonline@phunuvietnam.vn; Đường dây nóng: 094.170.7373;

Fanpage: https://www.facebook.com/baophunuvn/

Loading...
Ý kiến của bạn

* Xin vui lòng viết tiếng Việt có dấu!

Loading...

Tin cùng chuyên mục

'Tôi tự tin để hỗ trợ chị em hành nghề mại dâm hoàn lương'

'Tôi tự tin để hỗ trợ chị em hành nghề mại dâm hoàn lương'

Đó là lời chia sẻ của chị Đỗ Thị Bích Chi (quận 4, TPHCM) - một người từng hành nghề mại dâm và hoàn lương trở lại con đường làm ăn chân chính. Giờ đây, chị đã mạnh dạn, tự tin trong cuộc sống, giúp đỡ nhiều phụ nữ tránh xa con đường vi phạm pháp luật.
Số hòa giải viên ở cơ sở là nữ chiếm hơn 28%

Số hòa giải viên ở cơ sở là nữ chiếm hơn 28%

Hiện cả nước có hơn 100.000 tổ hòa giải được thành lập với hơn 650.000 hòa giải viên. Trong đó, số hòa giải viên là nữ giới chỉ chiếm hơn 28%, số hòa giải viên là người dân tộc thiểu số chiếm khoảng 1/4 tổng số hòa giải viên cả nước. Gần 800.000 vụ việc tranh chấp đã được giải quyết bằng hòa giải ở cơ sở kể từ năm 2014 đến năm 2018.